[Đăng ngày: 15/06/2016]
Từ tháng 6/2010 đến tháng 6/2011, các tác giả Trần Thị Hồng Phương, Phạm Văn Hải - Bộ Y tế đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng tình hình xử lý các loại chất thải tại Bệnh viện Y học cổ truyền”.
Nghiên cứu được tiến hành tại tất cả các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của 10 bệnh viện y học cổ truyền tỉnh đại diện các vùng trong cả nước.
Trang thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển lưu trữ và xử lý chất thải y tế: Hệ thống nhà tập kết, lưu trữ chất thải y tế của bệnh viện; Trạm xử lý chất thải của bệnh viện.
Chỉ số của nghiên cứu gồm: Lưu lượng phát thải chất thải y tế nguy hại trung bình của bệnh viện: kg/giường bệnh; Thực trạng vận chuyển và lưu trữ chất thải y tế nguy hại của bệnh viện đánh giá theo quyết định 43/2007/QĐ-BYT; Sự đáp ứng của nguồn lực bệnh viện: nguồn lực tài chính, vật lực, nhân lực, cơ sở hạ tầng dành cho công tác quản lý chất thải y tế.
Phương pháp nghiên cứu của tác giả thực hiện là phương pháp quan sát mô tả: sử dụng bảng kiểm điều tra thực trạng công tác thu gom, vận chuyển, bảo quản và xử lý chất thải y tế nguy hại của các bệnh viên y học cổ truyền.
Khảo sát phân loại quá trình phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu trữ chất thải y tế nguy hại tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng theo mẫu bảng kiểm.
Khảo sát quá trình tiêu hủy chất thải y tế theo mẫu bảng kiểm.
Nghiên cứu cơ sở dữ liệu thứ cấp: thu thập số liệu từ sổ sách liên quan về nguồn lực tài chính nhân lực, vật lực dành cho công tác xử lý và quản lý chất thải y tế của bệnh viện.
Theo phân tích của tác giả Trần Thị Hồng Phương, các Bệnh viện Y học cổ truyền tổ chức xử lý chất thải tại đơn vị mình theo 4 cách: thiêu đốt ngoài trời, thuê công ty môi trường, chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện, xử lý cùng chất thải thông thường. Biện pháp thiêu đốt ngoài trời gây ảnh hưởng lớn đến môi trường xung quanh, môi trường trong bệnh viện. Tuy nhiên đa số các Bệnh viện thuê công ty môi trường để xử lý, trong đó quy trình công nghệ của mỗi công ty khác nhau.
Mặc dù tất cả kết quả phân tích chất thải rắn y tế đều đạt các tiêu chuẩn trong theo Quy chuẩn Việt Nam, tuy nhiên kết quả phân tích chất thải y tế phụ thuộc rất lớn vào chất lượng lò đốt, công tác quản lý, khai thác và vận hành lò đốt là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả cũng như tính an toàn của lò đốt. Nếu chất lượng lò đốt không đạt yêu cầu, việc vận hành không đúng kỹ thuật sẽ làm tăng khả năng phát thải các chất độc hại ra môi trường như dioxin, furan…Theo kết quả điều tra, chỉ có một bệnh viện (chiếm 10%) có lò đốt xử lý chất thải y tế, so với số liệu thống kê của Cục quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế, cả nước mới chỉ có 27% bệnh viện có cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại hoặc có nhưng không hoàn chỉnh, hay đã ngưng hoạt động vì không có kinh phí, 50% chưa có phương tiện tốt để thiêu đốt chất thải rắn y tế. Theo tác giả nghiên cứu cả nước hiện có 200 lò đốt rác y tế chuyên dụng, trong đó có 02 xí nghiệp đốt rác tập trung tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Nếu sử dụng hết công suất thiết kế, các lò đốt rác y tế ở Việt Nam có thể tiêu hủy hơn 90% loại rác nguy hại. Tuy nhiên, do vận hành không đúng kỹ thuật nên khả năng thực tế chỉ đạt 50% công suất.
Xử lý bã thuốc sau khi sắc được đa số các bệnh viện xử lý bằng phương pháp chôn lấp là bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, hoặc làm phân bón, chỉ có một số ít các bệnh viện đổ ra cùng rác thải sinh hoạt. Như vậy chưa có quy định chung để các bệnh viện y học cổ truyền xử lý các bã thuốc, các bã thuốc trải qua quá trình sắc thuốc đôi khi cũng còn có hoạt chất và là môi trường tốt để phát triển các vi khuẩn, nấm mốc, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường xung quanh, mặc dù vậy có thể xếp bã thuốc thuộc nhóm chất thải thông thường vì mức độ gây ô nhiễm môi trường xung quanh không nghiêm trọng, có thể xử lý khi mỗi bệnh viện y học cổ truyền thực hiện việc xử lý chất thải thông thường tốt.
Kết quả phân tích mẫu chất thải lỏng ở 3 vị trí: nước thải ở khoa dược, nước thải đầu vào hệ thống xử lý; nước thải đầu ra hệ thống xử lý, trong đó các chỉ tiêu không đạt tập trung vào một số chỉ tiêu: BOD5­, Sufua, Coliform, Shigella. Trong đó chỉ có 50% bệnh viện Y học cổ truyền có hê thống xử lý nước thải, như thế một số bệnh viện y học cổ truyền chưa thực hiện tốt Quyết định số 50/QĐ-BYT về ban hành quy chế quản lý chất thải y tế, một số bệnh viện Y học cổ truyền chưa đạt vệ sinh, nhiều bệnh viện còn xả thẳng ra hệ thống nước thải sinh hoạt hoặc là xử lý qua không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, nguyên nhân là do chưa có đủ kinh phí đầu tư hệ thống chất thải lỏng.
Các tác giả đưa ra kết luận cho nghiên cứu gồm (1) 100% bệnh viện có biện pháp triệt để xử lý chất thải rắn y tế, trong đó 60% bệnh viện y học cổ truyền thuê công ty môi trường xử lý chất thải rắn y tế; 10% bệnh viện y học cổ truyền sử dụng lò đốt ngoài trời. (2) 50% bệnh viện y học cổ truyền có mô hình xử lý nước thải, tuy nhiên kết quả phân tích mẫu nước thải có nhiều mẫu không đạt tiêu chuẩn theo Quy chuẩn Việt Nam 28: 2010 trong đó tập trung chủ yếu ở các chỉ tiêu: BOD5; Sufua, Coliform, Shigella. (3) Các bệnh viện hạng II có 72,3% xử lý bã dược liệu bón cây trong bệnh viện; 84,2% các bệnh viện xử lý cùng chất thải khác; 46,8% xử lý khác, còn tại bệnh viện hạng III có 27,7% bệnh viện bón cây trong bệnh viện; 17,8% các bệnh viện xử lý cùng chất thải khác; 53,2% xử lý khác.
Hữu Lai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 118

Số lượt truy cập: 9368690

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang