
Làng nghề tái chế phế liệu chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy nhựa, vải đã qua sử dụng). Các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim loại với nguyên liệu chủ yếu và sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng được xếp vào loại hình làng nghề này.
Chất thải của các làng nghề này rất đa dạng, như chất thải khí (bụi, khí độc) tạo ra trong quá trình phơi, sấy khô, đốt ở làng nghề tái chế giấy và nhựa, do quá trình nấu chảy nguyên liệu ở làng nghề tái chế chì, tái chế nhôm, chất thải lỏng và rắn do quá trình xử lý, rửa nguyên liệu tái chế ở làng nghề tái chế kim loại…Một số ngành như tái chế, chế tác kim loại, đúc đồng, nhôm…có nhu cầu sử dụng nước không lớn nhưng nước thải bị ô nhiễm các chất rắn độc hại như các hóa chất, axit, muối kim loại, xyanua và các kim loại nặng như Hg, Cr, Zn, Cu…Lượng nước thải sản xuất của các làng nghề tái chế kim loại, gia công cơ khí, đúc, mạ không lớn, nhưng lại chứa nhiều chất độc hại như kim loại nặng (Zn, Fe, Cr, Ni…) dầu mở công nghiệp. Quá trình mạ bạc còn tạo ra muối Hg, xyanua, oxit kim loại và các tạp chất khác. Đặc biệt quá trình rửa bình ắc quy và nấu chì còn gây phát sinh nước thải chứa một lượng lớn chì. Nước thải của một số làng nghề có hàm lượng các kim loại nặng như Cr6+, Zn2+, Pb2+ lớn hơn từ 1,5 đến 10 lần TCVN.
Trong những năm gần đây mức độ ô nhiễm nước thải ở các làng nghề hầu như không giảm, thậm chí còn tăng cao hơn trước. Một phần do quy mô sản xuất tăng trong khi nước thải vẫn không được xử lý trước khi thải vào môi trường. Chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu ghom và xử lý triệt để, nhiều làng nghề xả thải bừa bãi, tác động xấu đến cảnh quan môi trường, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất đã ảnh hưởng lên sức khỏe người lao động. Tùy theo loại hình và quy mô sản xuất, mức độ và tính chất ô nhiễm cũng khác nhau.
Từ tháng 01/2013 đến tháng 5/2013 tác giả Trần Văn Thiện - Bệnh viện Bưu điện, Nguyễn Thị Thùy Dương - Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số đặc điểm và tình trạng thấm nhiễm một số kim loại nặng ở người lao động tại làng nghề tái chế kim loại xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh năm 2013”.
Theo báo cáo tác giả nghiên cứu, có 600 trường hợp đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, tác giả nghiên cứu đã phỏng vấn trực tiếp các đối tượng nghiên cứu để tìm ra những công nhân có nguy cơ tiếp xúc nghề nghiệp với kim loạii nhằm theo dõi các chỉ số sinh hóa (đánh giá mức tiếp xúc với ô nhiễm Pb, As, Cd ở nơi làm việc).
Lấy mẫu nước tiểu 24 giờ để phân tích các chỉ số sinh hóa liên quan đến tiếp xúc với kim loại trong công nhân. Định lượng δ-ALA trong nước tiểu theo phương pháp hấp thu qua cột nhựa trao đổi ion, dựa trên nguyên lý của Mauzerall và Granick và dùng phương pháp đo màu để định lượng.
Độ tuổi trung bình của người lao động tham gia nghiên cứu khá cao (40,7±7,7 năm). Người lao động tham gia nghiên cứu có thâm niên làm công việc tái chế kim loại trung bình là 19,1±7,9 năm, trong đó nhóm người lao động có thâm niên từ 10 đến dưới 20 năm và nhóm có thâm niên từ 20 đến dưới 30 năm chiếm đa số (khoảng 2/3 tổng số người tham gia nghiên cứu) với tỷ lệ lần lượt là 39,8% và 36%).
Theo phân tích của tác giả Trần Văn Thiện, mặc dù nồng độ trung bình của các kim loại nặng trong nước tiểu của người lao động vẫn nằm trong khoảng giá trị bình thường nhưng tỷ lệ người lao động có các chỉ số này cao hơn mức bình thường là tương đối cao ở cả 2 nhóm thu gom, sơ chế và nhóm nấu kim loại. Mặc dù chưa phát hiện được trường hợp nhiễm độc asen cấp tính nhưng về lâu dài, khi tiếp xúc với asen, người lao động sẽ gặp phải rất nhiều vấn đề sức khỏe.
Về nồng độ cadimin trung bình trong nước tiểu của người lao động tái chế kim loại ở mức 1,4 μg/24h, thấp hơn ngưỡng bình thường nhưng lại có gần 52% số người lao động tái chế kim loại có nồng độ cadimin trong nước tiểu cao hơn ngưỡng bình thường.
Tác giả nghiên cứu cũng cho biết phần lớn lượng thủy ngân được hấp thu vào cơ thể con người là qua đường hô hấp. Các nghiên cứu cho thấy 80% lượng hơi thủy ngân được cơ thể con người hấp thụ trong khi đó chỉ có dưới 1% lượng thủy ngân lỏng được hấp thụ khi ta đưa thủy ngân lỏng có trong thực phẩm qua đường tiêu hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ thủy ngân trung bình trong nước tiểu của người lao động tái chế kim loại ở mức 8,4μg/24h và gần 37% số người lao động tái chế kim loại có nồng độ thủy ngân trong nước tiểu cao hơn ngưỡng bình thường.
Tác giả Trần Văn Thiện đã có kết luận nghiên cứu là người lao động tham gia nghiên cứu có thâm niên làm công việc tái chế kim lọai trung bình là 19,1±7,9 năm, trong đó nhóm lao động có thâm niên từ 20 đến dưới 30 năm chiếm đa số. Nhóm người lao động từ 40 đến 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (42,7%), tiếp đó là nhóm người lao động từ 30 đến dưới 40 tuổi với tỷ lệ 34,5%. Nam giới chiếm đa số trong tổng số người tham gia nghiên cứu (62,5%). Trình độ học vấn của người tham gia nghiên cứu chủ yếu là hết bậc trung học cơ sở (hết lớp 9) với tỷ lê 80%.
Người lao động đang làm việc tại các cơ sở tái chế kim loại có chỉ số cân nặng, chiều cao, BMI trung bình ở mức bình thường (19,9).
Mặc dù nồng độ trung bình của các kim loại nặng trong nước tiểu của người lao động vẫn nằm trong khoảng giá trị bình thường nhưng tỷ lệ người lao động có các chỉ số này vượt ngưỡng bình thường là tương đối cao ở cả hai nhóm thu gom, sơ chế và nhóm nấu kim loại. Gần 1/3 số người lao động tại các cơ sở tái chế kim loại có nồng độ asen trong nước tiểu cao hơn ngưỡng bình thường. Hơn một nửa số người lao động tại các cơ sở tái chế kim loại có nồng độ Cadimi trong nước tiểu cao hơn mức bình thường. Tỷ lệ người lao động có nồng độ thủy ngân trong nước tiểu cao hơn mức bình thường là 36,7%.
Lâm Quyên