
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa glucid mạn tính đặc trưng bởi sự xuất hiện của hàng loạt các biến chứng mạch máu như bệnh lý cầu thận, võng mạc, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não...
Các biến chứng này xảy ra khá phổ biến và là nguyên nhân của gần 80% các trường hợp tử vong do bệnh. Rối loạn chức năng thành mạch do tình trạng tăng đường huyết mạn tính được cho là yếu tố cơ bản gây ra các biến chứng mạch máu của ĐTĐ.
Yếu tố Von Willerbrand là một glycoprotein được tổng hợp bởi các tế bào nội mạc mạch máu, tham gia vào cơ chế đông cầm máu với vai trò như một đồng yếu tố kết dính tiểu cầu với lớp dưới nội mạc mạch máu. Nghiên cứu ở cả bệnh nhân ĐTĐ type I và type II đều cho thấy, tăng nồng độ Von Willerbrand trong huyết tương phản ánh tình trạng tổn thương của nội mạc mạch máu và có liên quan rõ rệt với sự xuất hiện của các biến chứng mạch máu trong ĐTĐ, bao gồm cả các biến chứng vi mạch và mạch máu lớn. Để tìm hiểu mối liên quan giữa yếu tố này với một số biến chứng mạch máu trong ĐTĐ type II ở người cao tuổi, tác giả Trương Thị Như Ý – Bệnh viện Lão khoa Trung ương tiến hành đề tài nghiên cứu “Yếu tố Von Willerbrand trong bệnh ĐTĐ type II ở người cao tuổi và mối liên quan với một số biến chứng mạch máu” nhằm 2 mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm của sự biến đổi nồng độ yếu tố Von Willerbrand ở các bệnh nhân ĐTĐ type II cao tuổi. (2) Nghiên cứu mối liên quan giữa yếu tố này với sự xuất hiện một số biến chứng mạch máu của ĐTĐ.
Đối tượng nghiên cứu gồm 74 bệnh nhân ĐTĐ type II ≥ 60 tuổi được theo dõi điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết khoa khám bệnh hoặc điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Lão khoa Trung ương từ 10/2014 đến tháng 7/2015.
Tiêu chuẩn loại trừ là người bệnh từ chối tham gia nghiên cứu, hoặc đang có nhiễm trùng, xuất huyết do mọi nguyên nhân, suy gan, suy thận nặng, đang dùng các thuốc chống đông (heparin, kháng vitamin K) và thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu, mắc các bệnh lý đông cầm máu hoặc nghiện thuốc lá > 20 bao/năm.
Nhóm chứng gồm 35 người ≥ 60 tuổi thỏa mãn các tiêu chuẩn sau: không mắc bệnh ĐTĐ hoặc các bệnh lý đông cầm máu; không có các yếu tố nguy cơ gây rối loạn đông cầm máu; đang điều trị chống đông, nghiện thuốc lá nặng...
Theo tác giả nghiên cứu đối với xét nghiệm cận lâm sàng nghiên cứu thực hiện gồm soi đáy mắt, ĐTĐ, XQ tim phổi, tế bào máu ngoại vi, đông máu cơ bản (định lượng fibrinogen, tỷ lệ prothrombin, thời gian APTT), sinh hóa máu (đường máu lúc đói, HbA1c, urê, creatinin, AST, ALT, albumin, cholesterol, triglyceride, LDL-c, HDL-c), xét nghiệm nước tiểu (tế bào – trụ niệu, protein niệu 24 giờ), các xét nghiệm khác: siêu âm ổ bụng, siêu âm tim, siêu âm doppler mạch, chụp mạch, chụp CT hoặc MRI sọ não... Định lượng yếu tố Von Willerbrand bằng phương pháp miễn dịch đo độ đục, thực hiện tại Khoa Huyết học Bệnh viện Bạch Mai. Giá trị bình thường 60-150%.
Về xác định chẩn đoán ĐTĐ nghiên cứu dựa theo tiêu chuẩn của Hội ĐTĐ Hoa Kỳ (2014), khi có một trong 4 tiêu chuẩn sau: Đường (glucose) máu lúc đói (ít nhất sau ăn 8 giờ) > 7,0 mmol/1 (126mg/dl) trong 2 buổi sáng khác nhau. HbAlc > 6,5% (định lượng bằng sắc ký lỏng). Đường máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose (uống nhanh trong 5 phút 75g glucose hòa tan trong 200 ml nước) > 11,1 mmol/1 (200mg/dl). Đường máu bất kỳ > 11,1 mmol/1 (200 mg/dl), kèm theo các triệu chứng lâm sàng của tăng đường máu: đái nhiều, ăn nhiều, sút cân. Chẩn đoán nhồi máu cơ tim (Theo WHO) có 2/3 tiêu chuẩn: Cơn đau thắt ngực, thay đổi ST-T trên ECG, men tim tăng: CK, CKMB, troponin. Chẩn đoán nhồi máu não, biểu hiện đột quỵ trên lâm sàng và hình ảnh tổn thương trên CT Scanner hay MRI sọ não. Hẹp tắc động mạch cảnh, tiếng thổi mạch cảnh, thiếu máu não thoáng qua (tê bì, yếu nửa mặt, giảm thị lực 1 bên) + dấu hiệu tắc mạch cảnh trên siêu âm doppler hoặc chụp mạch. Tắc mạch chi, đau cách hồi, dấu hiệu hẹp tắc mạch trên siêu âm doppler/chụp mạch. Tổn thương thận do ĐTĐ, protein niệu ≥ 300 mg/24 giờ. Tổn thương đáy mắt do ĐTĐ, soi đáy mắt phát hiện các phình mạch, xuất huyết, xuất tiết hoặc tân tạo mạch máu trên võng mạc.
BS. Trương Thị Như Ý có kết luận cho nghiên cứu là (1) nồng độ yếu tố Von Willerbrand ở các bệnh nhân ĐTĐ type 2 cao tuổi tăng cao rõ rệt so với nhóm chứng và tăng dần theo tuổi. (2) Tăng nồng độ yếu tố Von Willerbrand trong huyết tương (>150%) có liên quan rõ rệt với sự xuất hiện của ít nhất 1 biến chứng mạch máu lớn (OR = 5,29; p = 0,0032) và biến chứng thận (OR = 8,65; p = 0,043) ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 cao tuổi.
Phúc Nguyên