
Suy tim mạn mất bù cấp là một vấn đề sức khỏe cộng đồng. Tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và chi phí điều trị ngày càng tăng cao chiếm đến 75% gánh nặng kinh tế dành cho chăm sóc người bệnh suy tim.
Hiện nay đã có nhiều tiến bộ điều trị suy tim mạn mất bù cấp nhưng tiên lượng bệnh vẫn còn kém, người bệnh tái nhập viện trong 30 ngày gần 25%; tỷ lệ tử vong 6 tháng đến 20% cao hơn so với nhồi máu cơ tim. Tầm quan trọng của các chỉ điểm sinh học tim trong chẩn đoán và phân tầng nguy cơ bệnh nhân suy tim ngày càng được khẳng định, trong đó có vai trò của các natriuretic peptides. Cơ tim bị tổn thương là do tình trạng thiếu máu cục bộ nặng và troponin tim (cardiac troponin-cTn) là một chỉ điểm sinh học nhạy và đặc hiệu cho các tổn thương cơ tim này. Bằng những phương pháp có độ nhạy cao (high sensitivity-hs), cTn với những nồng độ ở mức picogram/ml, gọi là hs-troponin, được phát hiện ở gần như tất cả người bệnh bị hội chứng suy tim mạn và cấp.
Có nhiều cơ chế giải thích tại sao nồng độ cTn tăng ở bệnh nhân suy tim, do hiện tượng chết tế bào cơ tim theo chương trình và tự thực bào, nhiễm độc tế bào trực tiếp liên quan với viêm, những yếu tố thần kinh thể dịch lưu hành, tiến trình thâm nhiễm; tình trạng viêm cơ tim do stress có thể hiện diện cùng suy tim và bất thường nồng độ cTn. Sự hiện hữu, mức độ và sự dai dẳng của tăng cTn trong suy tim hướng đến sự chấp nhận đó là yếu tố dự đoán độc lập kết cục xấu ở cả suy tim cấp và mạn.
Tại Hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức tháng 12/2015, tác giả Trần Lâm, Nguyễn Tuấn Long đã có báo cáo “Nghiên cứu hs-Troponin T – một chỉ điểm của hoại tử cơ tim ở bệnh nhân suy tim mạn mất bù cấp”. Quy trình nghiên cứu gồm các bước khám lâm sàng, đánh giá tình trạng suy tim, nguyên nhân, yếu tố thúc đẩy; thực hiện các xét nghiệm phục vụ cho nghiên cứu ngay sau người bệnh vào viện: công thức máu, đo điện tim, xét nghiệm NT-ProBNP, hs-Troponin T, ure và creatinin máu.
Theo tác giả nghiên cứu, suy tim mạn mất bù cấp là một đợt cấp của suy tim mạn còn bù, đây là một trong những dạng lâm sàng chính của suy tim cấp. Theo phân loại lâm sàng suy tim mạn mất bù cấp được chia 4 giai đoạn huyết động phụ thuộc vào sự xuất hiện của các hội chứng “ấm, lạnh, khô, ướt”. Người bệnh “ấm hay lạnh” phụ thuộc vào giảm tưới máu. Triệu chứng của dấu hiệu giảm tưới máu gồm mệt lã, huyết áp thấp, lạnh đầu chi, suy giảm chức năng thận, rối loạn tri giác. Còn bệnh nhân “khô hay ướt” phụ thuộc vào triệu chứng phù. Những triệu chứng quá tải thể tích gồm ho, khó thở kịch phát về đêm, tăng áp lực tĩnh mạch cổ, phù ngoại biên, gan lớn.
Kỹ thuật xét nghiệm hs-Troponin T được đo bằng phương pháp miễn dịch điện hóa quang với kỹ thuật Elecsys 2010, nồng độ có thể phát hiện là 3pg/ml, phân vị thứ 99 của quần thể tham chiếu là 14 pg/ml.
Kết quả nghiên cứu có 45 người tham gia nghiên cứu, nữ nhiều gấp đôi nam; nhóm trên 75 tuổi chiếm 53%. Phân bố theo nguyên nhân bệnh van tim chiếm nhiều nhất 36/45 trường hợp; tiếp đến là rung nhĩ 24/45 trường hợp; tăng huyết áp và thiếu máu mạn chiếm 35%, tâm phế mạn chiếm 11%; bệnh mạch vành 4,4%.
Nhóm nguyên nhân thì bệnh van tim cộng với rung nhĩ chiếm 33%; nhóm nguyên nhân bệnh van tim cộng rung nhĩ với tăng huyết áp chiếm hơn 11%. Có khoảng gần 7% bệnh nhân suy tim mạn mất bù cấp phối hợp cả bệnh van tim, rung nhĩ, thiếu máu và tăng huyết áp. Bệnh van tim luôn chiếm một vị trí trong các nhóm nguyên nhân phổ biến. Theo tác giả nghiên cứu, kết quả nghiên cứu cho thấy việc người bệnh kém tuân thủ với điều trị là yếu tố khởi kích phổ biến nhất của suy tim mạn mất bù cấp; tiếp đến là yếu tố do nhiễm trùng, loạn nhịp nhanh và suy thận. Ngoài ra còn có các yếu tố như đột quỵ, loạn nhịp thất và uống rượu cũng được ghi nhận.
BS Trần Lâm lưu ý 2/3 số trường hợp suy tim mạn mất bù cấp vào viện là dạng ấm và ướt, ứ dịch và sung huyết, mức độ sung huyết nặng hơn liên quan với kết cục xấu hơn. Bệnh nhân thuộc dạng ấm và khô thường có biểu hiện lâm sàng tăng huyết áp cấp tính kèm theo phù phổi cấp chớp nhoáng nhưng triệu chứng sẽ giảm nhanh nếu huyết áp được xử trí tích cực. Các nghiên cứu gần đây cho thấy người bệnh suy tim mạn mất bù cấp với tăng huyết áp thường đáp ứng nhanh với các thuốc lợi tiểu tĩnh mạch.
Đối với nồng độ hs-Troponin T huyết thanh, kết quả nghiên cứu nhận thấy 100% bệnh nhân có mức cTn T cao hơn nồng độ phát hiện và 66% bệnh nhân có mức cTn T cao hơn bách phân vị thứ 99 của quần thể tham chiếu. Nồng độ trung bình của hs-Troponin T là 49±23pg/ml. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nồng độ hs-TnT tương quan thuận có ý nghĩa với NT-ProBNP và creatinin máu. BS Trần Lâm nêu ra khuyến nghị trong thực hành lâm sàng cán bộ y tế cần lưu ý đối với những bệnh nhân nhập viện do suy tim và tăng cTn, sự tăng cTn có thể là do tổn thương cơ tim trong bối cảnh suy tim mất bù cấp hoặc do hội chứng vành cấp. Ở những bệnh nhân nhập viện với cTn ban đầu tăng, đo lặp lại sau 2-3 giờ có thể giúp xác định có hay không đặc điểm động học của cTn, nhưng quyết định vẫn là chụp mạch vành để chắc chắn hội chứng vành cấp hay suy tim mạn mất bù cấp. Nếu có cTn tăng nhưng H-FABP (Heart-type fatty acid binding protein) bình thường có thể đã có tổn thương cơ tim ở thời điểm nào đó gần đây nhưng không phải là một tổn thương cấp./.
Nguyên Khải