[Đăng ngày: 19/12/2015]
    Tại Hội nghị Khoa học Tim mạch miền Trung – Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức vào tháng 12/2015, tác giả Mai Xuân Anh cùng cộng sự Trung tâm Tim mạch Bệnh viện Trung ương Huế báo cáo nghiên cứu “Nồng độ NT-proBNP trên bệnh nhân hẹp van hai lá”.
    Theo tác giả nghiên cứu, hẹp van hai lá là một bệnh tim mắc phải khá phổ biến ở Việt Nam, chiếm tỷ lệ hơn 40% các bệnh lý tim mạch. Ở lứa tuổi 20-30, bệnh hẹp van hai lá hay gặp, tỷ lệ tử vong của bệnh đến 5%. Một khi van hai lá hẹp càng khít, càng làm gia tăng áp lực trong buồng nhĩ trái, tăng áp lực tĩnh mạch phổi, mao mạch phổi; hậu quả làm tăng áp lực động mạch phổi. Thất phải tăng co bóp để đảm bảo cung lượng tim. Khi áp lực tâm thu động mạch phổi quá cao, vượt quá sức chịu đựng của thất phải, dẫn đến suy tim phải và hở van ba lá. Suy tim bên phải là một triệu chứng quan trọng để đánh giá mức độ nặng của hẹp van hai lá. Thực hiện đánh giá tình trạng hẹp van hai lá y học có thể sử dụng xét nghiệm xâm nhập như thông tim hoặc xét nghiệm không xâm nhập như siêu âm tim, tuy nhiên những xét nghiệm này phụ thuộc đầu tư trang thiết bị, vai trò người cán bộ y tế; có xét nghiệm đơn giản hơn, dễ thực hiện, đóng vai trò quan trọng trong đánh giá mức độ nặng của hẹp van hai lá đó là xét nghiệm nồng độ NT-pro BNP, đây là một hormon không có hoạt tính sinh học được tìm thấy gia tăng ở các bệnh nhân có suy giảm chức năng thất.
    Nghiên cứu của Mai Xuân Anh được thực hiện trên 67 đối tượng nghiên cứu gồm 60 nữ, 07 nam; tuổi trung bình là 51,71; được chẩn đoán hẹp van hai lá đang điều trị tại Khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 8/2013 đến tháng 8/2015. Hẹp van hai lá được chẩn đoán xác định bằng siêu âm tim có diện tích lỗ van hai lá ≤ 2cm2 theo EAE/ASE 2009. Đánh giá mức độ suy tim theo 4 độ của NYHA; độ I có 8, độ 2 có 26, độ 3 có 28 và độ 4 có 05 bệnh nhân. Điện tâm đồ cho thấy có 21 bệnh nhân nhịp xoang, 46 bệnh nhân rung nhĩ; huyết áp (HA) tâm thu trung bình đối tượng nghiên cứu là 108,66 mmHg; HA tâm trương trung bình đối tượng nghiên cứu là 65,60mmHg. Không có sự khác biệt về HA giữa các nhóm theo mức độ hẹp van. Triệu chứng lâm sàng có 67% đối tượng nghiên cứu tĩnh mạch cổ nổi ứ máu ngoại biên, 57% gan lớn, 55% khó thở, 34% tần số tim nhanh.
    Về xét nghiệm định lượng nồng độ NT-proBNP, bệnh nhân được lấy mẫu máu 1ml, đựng vào ống nghiệm chứa sẵn K3-EDTA, quay ly tâm và huyết thanh, làm đông tại âm 20 độ C. Định lượng nồng độ NT-proBNP bằng máy Elecsys tại Khoa Hóa Sinh Bệnh viện Trung ương Huế. Thời gian của một xét nghiệm là 18 phút, giới hạn bình thường của xét nghiệm là 0,00 – 125pg/ml cho cả hai giới. Kết quả cho thấy, có 59 ca (88%) NT-proBNP tăng; có 47,7% hẹp nhẹ và vừa; 52,2% hẹp nặng (p<0,05). Có sự khác biệt về nồng độ NT-proBNP giữa nhịp xoang và rung nhĩ (p<0,05); như vậy có sự tương quan giữa nồng độ NT-proBNP và các chỉ số trên siêu âm tim, tương ứng với các mức độ nặng của hẹp van hai lá. Tác giả nghiên cứu lưu ý NT-proBNP là một hormon được tìm thấy có sự gia tăng khi đáp ứng với sự căng giãn của các buồng tim, đặc biệt là tim trái. Kết quả của tác giả nghiên cứu cho thấy có liên quan giữa NT-proBNP và tình trạng suy giảm chức năng thất phải. Do đối tượng nghiên cứu có phân suất tống máu bảo tồn, đường kính thất trái cuối tâm thu và tâm trương nằm trong giới hạn bình thường, tác giả cho rằng nguyên nhân của sự gia tăng NT-proBNP ở bệnh nhân hẹp van hai lá từ thất phải hơn là thất trái.
    Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những trường hợp có rung nhĩ nồng độ NT-proBNP tăng cao hơn nhóm những bệnh nhân có nhịp xoang. Tác giả nghiên cứu lý giải, cơ chế gây tăng NT-proBNP của rung nhĩ chưa rõ ràng, có lẽ từ sự thay đổi huyết động ở bệnh nhân hẹp van hai lá như gia tăng kích thước nhĩ trái, tăng áp lực động mạch phổi, diện tích van hai lá mới là nguồn gốc của gia tăng NT-proBNP ở nhóm bệnh nhân rung nhĩ. Quan sát đối tượng nghiên cứu, tác giả nhận thấy những trường hợp này có áp lực động mạch phổi cao hơn, kích thước nhĩ trái lớn hơn, diện tích van nhỏ hơn nhóm bệnh nhân có nhịp xoang.
    Tác giả nghiên cứu đã rút ra kết luận, NT-proBNP tăng cao trên bệnh nhân hẹp van hai lá và có mối tương quan thuận với mức độ nặng của bệnh.
    Trong nghiên cứu tác giả cũng lưu ý, những bệnh nhân hẹp van hai lá phối hợp với hở van hai lá, hở; hẹp van động mạch chủ; hẹp van động mạch phổi mắc phải, bệnh nhân có kèm theo các bệnh tim bẩm sinh không được mời tham gia nghiên cứu. Các trường hợp bệnh nhân suy thận giai đoạn ure máu >8,3mmol/l, creatinin máu >115µmol/l; bệnh nhân THA hệ thống, bệnh lý phổi mạn tính, Hội chứng động mạch vành cấp, tiền sử bệnh mạch vành; tiền sử phẫu thuật tim, van tim, bệnh lý đái tháo đường, xơ gan, các bệnh lý nội tiết gây tăng NT-proBNP, béo phì, bệnh lý về máu, nhiễm trùng cấp tính; rối loạn nhịp hở van hai lá cấp, u nhầy nhĩ trái, tái hẹp van hai lá sau phẫu thuật, suy tim do bệnh cơ tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ; cường giáp hoặc suy tim do hẹp hở van động mạch chủ cũng đều không được mời tham gia nghiên cứu.
Phúc Nguyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 160

Số lượt truy cập: 9370327

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang