[Đăng ngày: 17/12/2015]
Tại Hội nghị khoa học phẫu thuật thần kinh Việt Nam thường niên lần thứ 16 được tổ chức tại thành phố Nha Trang tháng 12/2015, BS CKII Phan Minh Đức cùng cộng sự khoa Ngoại thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy đã báo cáo nghiên cứu “Phẫu thuật nội soi qua đường liên bản sống điều trị thoát vị đĩa đệm thắt lưng – cùng”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9/2013 đến tháng 5/2015, 40 bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị đĩa đệm L4L5 hoặc L5S1, bệnh nhân có đau rễ thần kinh thắt lưng – cùng một bên phù hợp với hình ảnh thoát vị trên MRI và có chỉ định phẫu thuật nội soi qua đường liên bản sống.
Đánh giá mức độ cải thiện đau sau phẫu thuật so với trước phẫu thuật (%) bằng VAS trước phẫu thuật trừ cho VAS sau phẫu thuật nhân cho 100 chia cho VAS trước phẫu thuật. Còn đánh giá mức độ phục hồi theo thang điểm Macnab 6 tháng sau phẫu thuật, có 4 mức độ rất tốt là hết đau, không hạn chế vận động, có thể quay lại công việc bình thường; mức độ tốt là thỉnh thoảng còn đau nhưng không theo rễ thần kinh, hết các triệu chứng trước phẫu thuật, có ảnh hưởng tới khả năng làm việc bình thường; mức độ trung bình là vài chức năng được cải thiện nhưng còn đau, bệnh nhân phải rút ngắn hoặc giảm bớt công việc; mức độ xấu là còn triệu chứng đau theo rễ thần kinh, có thể cần phải phẫu thuật lại.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 40 bệnh nhân tham gia, tuổi trung bình là 44,2; nhỏ nhất là 16, lớn nhất là 60 tuổi. Các bệnh nhân có thời gian khởi bệnh tương đối sớm, 70% bệnh nhân dưới 3 tháng. Các triệu chứng đau lưng (có tỷ lệ 62,5%) đau chân kèm theo tê chân và dấu Laseque dương tính đạt tỷ lệ 100%. Có 3 trường hợp mất phản xạ gân gót. Tất cả bệnh nhân được chụp Xquang 4 tư thế thẳng, nghiêng, cúi, ngửa và MRI cột sống thắt lưng không cản từ. Trên Xquang ghi nhận có một trường hợp có 4 đốt sống thắt lưng, một trường hợp có 6 đốt sống thắt lưng, 2 trường hợp có gai sống chẻ đôi. Trên MRI ghi nhận độ lớn trung bình của khối thoát vị là 8,52mm. Có 8 trường hợp thoát vị đĩa đệm dạng mảnh rời.
Tác giả nghiên cứu mô tả tất cả bệnh nhân phẫu thuật được gây mê toàn thân, đặt nằm sấp; thời gian phẫu thuật trung bình 55,88 phút. Đánh giá mức độ đau rễ thần kinh điểm VAS trung bình là 7,52 trước phẫu thuật, sau mổ giảm còn 1,08 tại thời điểm 1 tháng; sau 6 tháng phẫu thuật giảm còn 0,8. Tỷ lệ cải thiện đau là 85,6% tại thời điểm 1 tháng và 89,4% tại thời điểm 6 tháng.
Đối với vấn đề đau tác giả lưu ý điều trị nội khoa giúp cải thiện triệu chứng đau lưng và rễ thần kinh, nhưng đối với những trường hợp đau nặng, dai dẳng hoặc xấu đi nên chọn lựa phẫu thuật. Đối với đánh giá mức độ phục hồi sau phẫu thuật theo tiêu chuẩn Macnab, kết quả tốt và rất tốt sau 6 tháng là 37/40 trường hợp (90,4%). Có 2 trường hợp có kết quả trung bình; 1 trường hợp đau theo rễ thần kinh kéo dài 1 năm trước nhập viện, điểm VAS trước mổ là 7; khi phẫu thuật ghi nhận trong khối thoát vị có một phần tấm tận, tác giả nghiên cứu cho rằng sự chèn ép của phần thoát vị “cứng” lâu ngày có khả năng gây tổn thương cho rễ thần kinh khó phục hồi. Sau xuất viện bệnh nhân có cải thiện triệu chứng nhưng chưa trở lại công việc. Tác giả nghiên cứu cũng nhận định những trường hợp có triệu chứng kéo dài thường có kết quả điều trị thấp hơn, có thể do chèn ép lâu ngày gây thiếu máu nuôi và loạn dưỡng rễ thần kinh làm kéo dài thời gian phục hồi.
BS Đức lưu ý mạch máu trên bề mặt rễ thần kinh rất nhạy cảm áp lực, ngay khi vén rễ ở mức 1 – 2 mm, lưu lượng máu đến nuôi rễ thần kinh bắt đầu giảm và áp lực trên rễ thần kinh tăng nhanh. Trong phẫu thuật thường nhẹ nhàng, hạn chế trực tiếp vén rễ thần kinh. Điểm mạnh của nội soi qua đường liên bản sống là đường vào nhỏ, ít chảy máu, ít mở dây chằng vàng, ít vén rễ thần kinh.
Theo nhiều nghiên cứu, tỷ lệ thoát vị đĩa đệm tái phát là 1,6% tại thời điểm sau 6 tháng phẫu thuật, do phần thoát vị tái phát 75% thành phần là tấm tận. Các nghiên cứu cũng lưu ý bảo tồn sự toàn vẹn bao sợi trong lúc phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong hạn chế tái phát bệnh. Đối với dây chằng vàng bao phủ vùng liên bản sống, ngăn không cho các nguyên bào cơ di chuyển từ vùng mô cơ bị sang chấn vào trong khoang ngoài màng cứng. Các nguyên bào cơ thường là nguyên nhân gây sẹo xơ ngoài màng cứng sau phẫu thuật. Kỹ thuật mổ nội soi mở dây chằng vàng ít, ống thao tác kích thước nhỏ, sau mổ chỗ cắt dây chằng vàng gần như tự khép lại thành một khe nhỏ. Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý cần bảo tồn mô mỡ quanh màng cứng và rễ thần kinh, giữ nguyên vẹn phần lớn bao sợi của đĩa đệm để hạn chế hình thành mô sẹo xơ sau phẫu thuật.
Phần lớn trường hợp thoát vị đĩa đệm thắt lưng – cùng điều trị thành công bằng thuốc, nghỉ ngơi và tập vật lý trị liệu; phẫu thuật áp dụng khi điều trị nội khoa thất bại. Có nhiều phương pháp mổ như lấy nhân đệm qua da, giảm áp nhân đệm qua da bằng sóng cao tầng hoặc laser, phẫu thuật nội soi hiện đang phát triển giải quyết bệnh hiệu quả rút ngắn thời gian nằm viện sau mổ.  
Ngô Thanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 165

Số lượt truy cập: 9370337

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang