[Đăng ngày: 19/12/2015]
Tại Hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức vào tháng 12/2015, các tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn Cửu Lợi khoa cấp cứu Tim mạch can thiệp Bệnh viện Trung ương Huế báo cáo “Nghiên cứu nồng độ Estradiol huyết thanh và một số yếu tố nguy cơ ở phụ nữ mãn kinh có và không có bệnh động mạch vành”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4/2011 đến tháng 6/2012, có 108 bệnh nhân là phụ nữ mãn kinh có chỉ định chụp động mạch vành tham gia nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu được chia làm 2 nhóm dựa vào kết quảchụp mạch vành, nhóm gồm các phụ nữ mãn kinh bị bệnh mạch vành và nhóm chứng là gồm các phụ nữ mãn kinh không bị bệnh mạch vành. Mãn kinh được hiểu là sau 2 năm không có kinh trở lại. Đối với phụ nữ bị cắt bỏ buồng trứng, tử cung, phụ nữ dùng hocmon thay thế đều không chọn vào đối tượng nghiên cứu.
Đối với định lượng nồng độ Estrogen huyết thanh, phụ nữ tiền mãn kinh có nồng độ trung bình từ 35-250 ng/ml, phụ nữ sau mãn kinh có nồng độ trung bình 5-15 ng/ml. Đánh giá kết quả chụp động mạch vành dựa vào điểm đánh giá Gensini, độ 1 có 25% hẹp, độ 2 có 50% hẹp, độ 3 có 75% hẹp, độ 4 có 90% hẹp, độ 5 có 99% hẹp và độ 6  có 100% hẹp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 2 nhóm nghiên cứu độ tuổi 60-65 chiếm tỷ lệ cao nhất, một số nghiên cứu cho thấy, sau mãn kinh nguy cơ bệnh động mạch vành ở nữ  tăng dần có thể ngang với nam giới. Theo tác giả nghiên cứu khi bước vào thời kỳ mãn kinh người phụ nữ có sự thay đổi hàng loạt về nội tiết, đặc biệt sự suy giảm estradiol huyết thanh. Sự thiếu hụt hormone tác động lên các cơ quan cơ thể, là nguyên nhân dẫn đến những rối loạn chuyển hóa, góp phần mắc bệnh động mạch vành. Khi ở tuổi mãn kinh, nồng độ estrogen máu giảm thấp, sự thiếu hụt và kéo dài tình trạng này làm xuất hiện hiện tượng methyl hóa AND tại vùng hoạt hóa các thụ thể estrogen α và β, do đó làm thay đổi cấu trúc của thụ thể estrogen, làm mất chức năng đáp ứng đối với tác động của estrogen, khả năng chống xơ vữa động mạch của estrogen phụ nữ tuổi mãn kinh không còn hiệu quả vì vậy tỷ lệ mắc bệnh động mạch vành và mạch não tăng lên. Theo báo cáo của Nguyễn Thị Bích Ngọc, nghiên cứu cho kết quả nồng độ estradiol huyết thanh của nhóm nghiên cứu thấp hơn so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê. Đối với nồng độ estradiol huyết thanh giữa 2 nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên có sự khác biệt về nồng độ estradiol huyết thanh theo thời gian mãn kinh giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng (p<0,05). Tác giả cũng lưu ý những phụ nữ có thời gian mãn kinh sớm có nguy cơ bị bệnh động mạch vành cao hơn và độc lập với các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipit máu và những yếu tố nguy cơ này lại liên quan mật thiết đến mãn kinh.
Đối với kết quả tương quan giữa nồng độ estradiol huyết thanh và huyết áp tâm thu, kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ estradiol huyết thanh tương quan nghịch với huyết áp tâm thu, khi huyết áp tâm thu ở mức lớn hơn hoặc bằng 140mmHg có giá trị dự báo nguy cơ xơ vữa động mạch ở phụ nữ mãn kinh.
Đối với yếu tố béo phì kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan nghịch giữa nồng độ estradiol huyết thanh và BMI, sự thiếu hụt estrogen ở phụ nữ mãn kinh làm thay đổi sự phân bố mỡ trên cơ thể, tập trung phân bố mỡ ở bụng, tiêu mỡ ở vùng mu và mông. Kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy có sự tương quan đối với triglyceride, đây là yếu tố dự báo nguy cơ bệnh tim mạch của phụ nữ, tăng triglyceride ở thời kỳ mãn kinh có liên quan đến gia tăng béo bụng, tăng đề kháng Insulin, tăng nguy cơ xơ vữa động mạch. Estrogen cũng có vai trò làm tăng độ thanh thải LDL-C, vì vậy khi sụt giảm estrogen làm tăng LDL-C máu, điều này góp phần tăng nguy cơ xơ vữa động mạch. Đối với HDL-C, theo tác giả nghiên cứu, đây là yếu tố dự báo quan trọng về nguy cơ xơ vữa động mạch ở phụ nữ, kết quả nghiên cứu cho thấy có tương quan thuận giữa nồng độ estradiol huyết thanh và HDL-C. Đối với tương quan giữa estradiol huyết thanh và đường máu, khi nồng độ estradiol giảm làm tăng tỷ lệ đề kháng Insulin, vì vậy phụ nữ mãn kinh bị đái tháo đường có tỷ lệ mắc bệnh lý tim mạch cao gấp 2 lần so với phụ nữ không bị đái tháo đường.
Đối với thời gian mãn kinh, tác giả nghiên cứu chỉ ra những phụ nữ có thời gian mãn kinh dài đồng nghĩa phụ nữ có thời gian thiếu hụt estrogen dài hơn, nguy cơ bị xơ vữa động mạch càng cao, đồng thời tỷ lệ mắc phải và mức độ hẹp của động mạch vành cũng tăng lên.
Bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất hiện nay ở phụ nữ mãn kinh. Nồng độ estradiol giảm ở phụ nữ mãn kinh là một yếu tố nguy cơ gây nên bệnh động mạch vành bên cạnh các yếu tố nguy cơ khác. Theo JACC (2009) tử vong do bệnh động mạch vành ở nữ cao hơn nam giới (455.000 so với 410.000). Báo cáo gánh nặng bệnh bệnh tật toàn cầu năm 2004, tử vong do bệnh động mạch vành chiếm tỷ lệ 32% ở phụ nữ là 27% ở nam giới trên toàn thế giới. Trong đó ở Châu Âu ở nữ tỷ lệ tử vong là 54% cao hơn so với nam giới là 43% do bệnh động mạch vành.
Trần Hưng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 158

Số lượt truy cập: 9370325

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang