[Đăng ngày: 19/12/2015]
Tại Hội nghị Khoa học Tim mạch miền Trung – Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức vào tháng 12/2015, tác giả Nguyễn Thị Bích Thảo cùng cộng sự Bệnh viện Trung ương Huế đã báo cáo nghiên cứu “Nguy cơ tồn dư qua tỷ lệ TG/HDL-C ở bệnh nhân bệnh mạch vành”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01-7/2013, có 98 đối tượng nghiên cứu tham gia, những bệnh nhân được chẩn đoán bệnh mạch vành trước đó đã điều trị các thuốc giảm cholesterol máu không được tham gia nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu có 62 nam, 36 nữ, tuổi trung bình là 67,2, người nhỏ nhất là 44 tuổi, cao nhất là 90 tuổi. Về phân bố các yếu tố nguy cơ ở 2 giới, yếu tố hút thuốc lá ở nam giới có tỷ lệ là 60,2%, gấp 12 lần so với nữ giới, yếu tố nguy cơ đái tháo đường ở nam giới gấp 2 lần so với nữ giới. Tỷ lệ chung cho cả hai giới, tiền sử gia đình là 9,2%, tăng huyết áp là 56,1%; tăng LDL-C gần 60%. Tất cả yếu tố nguy cơ giới nam đều chiếm ưu thế.
Đối với phân bố số lượng các yếu tố nguy cơ trên từng bệnh nhân, nhóm có dưới 3 yếu tố nguy cơ ở nam giới và nữ giới đều bằng nhau là 29,6%; chung cho cả 2 nhóm gần 60%. Đối với nhóm có từ 3 yếu tố nguy cơ trở lên nam giới có tỷ lệ 33,7% gấp gần 5 lần so với nữ giới. Kết quả đặc điểm phân bố các chỉ số lipit máu, số bệnh nhân có LDL-C≥ 2,6 mmol/l có tỷ lệ 59,2%; TG≥ 1,7 mmol/l có tỷ lệ 51%, HDL-C <1,03 (nam) và <1,29 (nữ) có tỷ lệ 52%. Nhóm có tổng số TG/HDL-C≥ 1,33 cao gần gấp đôi so với nhóm có TG/HDL-C<1,33 (34%).
Đối với phân bố các chỉ số lipit ở các nhóm LDL-C, với 40 trường hợp LDL-C<2,6 có 16 trường hợp LDL-C<1,8. Trong nhóm LDL-C<2,6 có 25 trường hợp HDL-C thấp hơn giá trị bình thường, 24 trường hợp TG cao>1,7 nhưng có đến 32 trường hợp TG/HDL-C≥ 1,33 . Trong nhóm LDL-C<1,8 có 62,5% HDL-C thấp, TG>1,7 nhưng có 81,3% TG/HDL-C ≥ 1,33. Nghiên cứu cũng phát hiện trong nhóm TG/HDL-C< 1,33 thì tổn thương động mạch vành kiểu A là ưu thế và đối với nhóm TG/HDL-C≥1,33 tổn thương động mạch vành chủ yếu là kiểu B. Đối với đánh giá mức độ hẹp theo đường kính, với nhóm TG/HDL-C < 1,33 thì các tổn thương ≤ độ 3 chiếm ưu thế trong khi nhóm TG/HDL-C≥ 1,33 thì các tổn thương ≥ độ 4 chiếm ưu thế. Đối với phân bố giá trị trung bình điểm Gensini, nhóm TG/HDL-C < 1,33 là 12,8 thấp hơn so với nhóm TG/HDL-C ≥ 1,33 là 38,2 (p<0,05).
Theo tác giả nghiên cứu, các bằng chứng cho thấy giảm LDL cholesterol máu làm giảm nguy cơ tim mạch là rõ ràng. Tuy nhiên khi LDL-C đạt được mục tiêu điều trị(<2,6 mmol/l hay 1,8 mmol/l đối với các trường hợp có nguy cơ rất cao) thì bệnh mạch vành vẫn còn tồn tại, điều này chứng tỏ ngoài LDL-C còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến bệnh mạch vành. Trong kết quả nghiên cứu tác giả giả lưu ý, TG/HDL-C có ảnh hưởng nhiều hơn đến tổn thương mạch vành, đồng thời có sự tương quan thuận giữa tỷ lệ này với các mức độ tổn thương động mạch vành. Số điểm Gensini, kiểu tổn thương động mạch vành theo ACC/AHA, mức độ hẹp và số tổn thương động mạch vành. Tỷ lệ TG/HDL-C> 1,33 phân biệt kích thước hạt LDL là nhỏ hay lớn. Trong nghiên cứu của tác giả có đến 65% TG/HDL-C>1,33 đều này chứng tỏ đa số bệnh động mạch vành đều có phần lớn là các hạt LDL kích thước nhỏ; tỷ lệ TG/HDL-C càng lớn thì hạt LDL càng nhỏ. Tác giả nghiên cứu nhấn mạnh ngay khi LDL-C, huyết áp và nồng độ HbA1C đã đạt được mục tiêu theo các khuyến cáo hiện tại, bệnh nhân vẫn có nguy cơ mắc các bệnh mạch máu, đó là yếu tố nguy cơ tồn lưu, tỷ lệ TG/HDL-C chính là một nguy cơ tồn lưu. Như vậy mục tiêu điều trị là làm giảm LDL-C nhưng đồng thời cũng chú ý làm giảm tỷ lệ TG/HDL-C. Đối với những bệnh nhân có LDL-C cao thì tỷ lệ TG/HDL-C là một dấu hiệu cho các nguy cơ bệnh lý tim mạch sau này. Việc phát hiện và điều trị tình trạng rối loạn lipit, lipoprotein sớm là rất quan trọng giúp giảm được tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành.
Theo hướng dẫn quốc gia điều trị kết hợp thuốc niacin hoặc fibrat với statin là biện pháp giải quyết nhiều mục tiêu lipit (LDL-C, non HDL-C, HDL-C, TG), nó làm chậm sự phát triển của mảng xơ vữa và đặc biệt làm giảm nguy cơ tim mạch tồn dư. Tác giả nghiên cứu khuyến cáo tất cả mọi người từ 20 tuổi trở lên nên xét nghiệm cholesterol toàn phần, đối với đối tượng có bệnh động mạch vành hoặc có yếu tố nguy cơ bệnh động mạch vành cần xét nghiệm cholesterol toàn phần, triglycerit, LDL-C, HDL-C để có giải pháp điều trị phù hợp.
Rối loạn lipit máu được xem là nguy cơ chính của bệnh mạch vành do xơ vữa, trong đó LDL-C là mục tiêu chính trong điều trị. Các hạt LDL kích thước lớn ít có khả năng sinh xơ vữa. Các hạt LDL nhỏ đậm đặc chứa nhiều cholesterol ester (phenotype B) được cho là có tính sinh xơ vữa động mạch cao hơn do nhạy cảm với các thay đổi oxy hóa. Các hạt này không thể định lượng trực tiếp mà được đánh giá gián tiếp qua tỷ lệ TG/HDL-C, chỉ số dự báo nguy cơ tim mạch trong tương lai và yếu tố nguy cơ tồn dư không liên quan LDL./.
Trần Mai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 154

Số lượt truy cập: 9370320

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang