
Tại Hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức vào tháng 12/2015, Bác sỹ Nguyễn Thị Duyến cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Huế đã báo cáo nghiên cứu “Nguy cơ xuất huyết bằng thang điểm Crusade, Action – GWTG và Acuity – Horizons ở bệnh nhân hội chứng vành cấp”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 5/2015, có 167 đối tượng nghiên cứu phù hợp tiêu chuẩn nghiên cứu là được chẩn đoán xác định hội chứng vành cấp và tự nguyện tham gia nghiên cứu. Những trường hợp có bệnh lý rối loạn đông máu không được chọn tham gia nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu theo Bs Duyến báo cáo cho thấy tỷ lệ nam giới là gần 65% cao hơn so với nữ giới, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 68,7, tỷ lệ nhồi máu cơ tim có ST chênh lên chiếm gần 40%, đau thắt ngực không ổn định chiếm gần ¼; có gần ¾ đối tượng nghiên cứu được can thiệp mạch vành qua da. Đối với biến chứng xuất huyết, gồm xuất huyết nội sọ, xuất huyết tiêu hóa, tiểu máu, xuất huyết dưới da, xuất huyết vị trí đường vào, chảy máu mũi; theo tác giả nghiên cứu đây là yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân hội chứng vành cấp, làm tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện và tăng thêm chi phí điều trị của người bệnh. Các biến cố xuất huyết nặng thường liên quan đến sử dụng thuốc chống đông. Kết quả nghiên cứu này có 17 trường hợp xuất huyết chiếm tỷ lệ 10,2%, tỷ lệ xuất huyết của những bệnh nhân đau thắt ngực không ổn định là 0,6%; nhồi máu cơ tim không ST chênh lên là 2,4% và nhồi máu cơ tim ST chênh lên là 7,2% (p<0,05). Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý xuất huyết nội sọ là một biến chứng nặng, tiên lượng tử vong cao nhưng hiếm gặp. Đối với nghiên cứu của tác giả cho thấy không có trường hợp xuất huyết nội sọ nào. Đối với xuất huyết tiêu hóa và tiểu máu cùng có tỷ lệ 2,4% trên tổng số đối tượng nghiên cứu. Còn biến chứng xuất huyết tại vị trí đường vào, máu tụ và chảy máu tại vị trí chọc vào động mạch có tỷ lệ là 2,4%. Đây là những biến chứng có liên quan đến can thiệp mạch vành qua da và thường tăng lên khi phối hợp điều trị chống đông. Xuất huyết dưới da là biến chứng nhẹ, thường gặp ở vị trí tiêm enoxaparin với tỷ lệ 4,2%.
So sánh đối tượng nghiên cứu trong nhóm nguy cơ xuất huyết theo thang điểm CRUSADE chiếm tỷ lệ cao nhất là nguy cơ trung bình 31-40 điểm có tỷ lệ 31,1%, nguy cơ rất thấp từ 20 điểm trở xuống chỉ có 9%; Đối với thang điểm ACTION-GWTG nguy cơ thấp (21-30 điểm) chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,3%; Không có trường hợp nào nằm trong nhóm nguy cơ rất cao. Còn theo thang điểm ACUITY-HORIZONS, nguy cơ rất cao chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,9%, các nguy cơ xuất huyết thấp có tỷ lệ 12%, xuất huyết trung bình tỷ lệ 20,3%, xuất huyết cao có tỷ lệ gần 20%.
Theo tác giả nghiên cứu, dùng diện tích dưới đường cong ROC (AUC) để xác định giá trị dự đoán nguy cơ xuất huyết của 3 thang điểm trên. Kết quả thang điểm ACTION-GWTG có AUC lớn nhất là 0,832 (p<0,001). Diện tích của thang điểm CRUSADE là 0,737 và diện tích AUC của thang điểm ACUITY-HORIZONS là 0,723. Như vậy khả năng dự báo nguy cơ xuất huyết của 3 thang điểm đều ở mức tốt, trong đó thang điểm ACTION-GWTG có giá trị dự báo tốt nhất. Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới được thực hiện với trên 4500 bệnh nhân hội chứng vành cấp cũng đưa ra giá trị dự đoán rất tốt của ACTION-GWTG. Tác giả nghiên cứu lưu ý, các dấu hiệu dự báo tương tự nhau ở cả 3 thang điểm gồm có các yếu tố nữ giới, suy thận, thiếu máu. Ở thang điểm CRUSADE và thang điểm ACTION-GWTG có nhiều dấu hiệu quan trọng liên quan đến biến chứng xuất huyết ở bệnh nhân hội chứng vành cấp như nhịp tim, HA tâm thu, suy tim, đái tháo đường và tiền sử bệnh mạch máu.
Tác giả nghiên cứu đã kết luận cả 3 thang điểm CRUSADE, ACTION-GWTG và ACUITY-HORIZONS đều là những công cụ tốt trong phân tầng nguy cơ xuất huyết ở bệnh nhân hội chứng vành cấp, trong đó thang điểm ACTION-GWTG và thang điểm CRUSADE có giá trị dự đoán nguy cơ xuất huyết tốt hơn thang điểm ACUITY – HORIZONS.
Bệnh mạch vành là bệnh lý phổ biến, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở các nước phát triển. Hội chứng vành cấp bao gồm 3 thể bệnh: đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim không ST chênh lên và nhồi máu cơ tim ST chênh lên. Một trong những biến chứng khi điều trị hội chứng vành cấp là nguy cơ xuất huyết khi sử dụng liệu pháp chống đông. Vị trí và mức độ nặng của xuất huyết là một yếu tố tiên lượng bệnh do đó việc đánh giá nguy cơ xuất huyết ở bệnh nhân là rất cần thiết. Các thang điểm đánh giá được tác giả nghiên cứu là những thang điểm đánh giá nguy cơ xuất huyết ở bệnh nhân hội chứng vành cấp được đưa ra và áp dụng hiện nay.
Văn Hanh