
Tại Hội nghị Khoa học Phẫu thuật thần kinh Việt Nam lần thứ 16 được tổ chức tại thành phố Nha Trang tháng 12/2015, Bác sỹ Lê Đình Huy Khanh – Bệnh viện Đà Nẵng đã báo cáo nghiên cứu “Các rối loạn nội tiết bệnh lý u tuyến yên”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2010 đến tháng 3/2015 tại Khoa ngoại thần kinh – Bệnh viện Đà Nẵng và Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh. Có 60 bệnh nhân được chọn vào đối tượng nghiên cứu, khám lâm sàng có triệu chứng u tuyến yên, xét nghiệm nội tiết có rối loạn và chụp cộng hưởng từ có hình ảnh u tuyến yên. Những trường hợp chẩn đoán lâm sàng, hình ảnh học là u tuyến yên nhưng có chẩn đoán giải phẫu bệnh không phải u tuyến yên không được chọn vào nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu đối với các rối loạn nội tiết u tuyến yên tăng tiết hormone trước mổ cho thấy có 9 trường hợp u tuyến yên tiết PRL, PRL máu trung bình là 686,2 ng/ml. Giá trị trung bình GH trong u tuyến yên tiết GH là 38,4 ng/ml; ca nhỏ nhất là 9,3 ca lớn nhất là 82 ng/ml. Giá trị trung bình của IGF-1 trong u tuyến yên tiết GH là 687,5 ng/ml. Giá trị trung bình của IGF-1 trong u tuyến yên tiết GH là 678,5 ng/ml, ca nhỏ nhất là 282, ca lớn nhất là 980 ng/ml.
Còn đối với các rối loạn nội tiết của u tuyến yên không tiết hormone, có 15 trường hợp FT4 giảm trước khi mổ, với giá trị trung bình là 0,7 ng/dl, ca thấp nhất là 0,4 ng/dl, ca cao nhất là 0,9 ng/dl. Giá trị hormone TSH trước mổ có 41 trường hợp u tuyến yên không tiết hormone trong nghiên cứu nằm trong giới hạn bình thường, giá trị trung bình là 1,7 μIU/ml, giá trị nhỏ nhất là 0,3 μIU/ml, lớn nhất là 3,9 μUI/ml. Có 41 trường hợp u tuyến yên không tiết hormone đều có ACTH nằm trong giới hạn bình thường, tuy nhiên trong số này có 26 trường hợp ACTH bình thường mà cortisol máu giảm. Trước mổ cortisol máu có giá trị trung bình 26 trường hợp là 88,5; ca thấp nhất là 0,9 mmol/ml; ca cao nhất là 167,5 mmol/ml. Có 17/41 trường hợp u tuyến yên không tiết hormone giảm FSH và LH; 12 trường hợp u tuyến yên có tăng PRL máu nhưng chưa đủ tiêu chuẩn chẩn đoán u tuyến yên tiết PRL.
Theo tác giả nghiên cứu những trường hợp được chẩn đoán u tuyến yên tiết PRL là trên cộng hưởng từ có cản quang phát hiện hình ảnh khối choáng chỗ bắt thuốc cản quang từ trong hố yên, làm dãn rộng hoặc xâm lấn vùng quanh hố yên, kết hợp với lượng PRL máu tăng cao trên 200ng/ml. Để chẩn đoán bệnh to cực, cần đo nồng độ GH và IGF-1; Nồng độ GH huyết thanh cung cấp thông tin về lượng hormone tiết ra của khối u, còn nồng độ IGF-1 huyết thanh hiển thị mức độ lành bệnh của phương pháp điều trị. Tác giả nghiên cứu nhấn mạnh, để chẩn đoán bệnh to cực cần phải làm nghiệm pháp dung nạp Glucose đường uống để đo lượng GH máu và xét nghiệm IGF-1.
Đối với u tuyến yên không tiết hormone, suy giáp thứ phát trong bệnh lý u tuyến yên. Khi nồng độ FT4 huyết thanh giảm và/hoặc TSH bình thường hoặc giảm. Những trường hợp suy giáp thứ phát nếu không được phẫu thuật giải áp lâu dài sẽ làm giảm nồng độ TSH huyết thanh. Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý, đo lượng cortisol máu lúc 8 giờ sáng cũng đánh giá được sự suy giảm chức năng tuyến thượng thận. Trong nghiên cứu này có 26/41 trường hợp u tuyến yên không tiết hormone có cortisol máu giảm trước mổ (buổi sáng 171-536 mmol/L, chiều 64-327 mmol/L); như vậy nghiên cứu phát hiện có 17 trường hợp giảm FSH và LH, suy giảm hormone hướng sinh dục.
Bác sỹ Khanh cũng nhấn mạnh, đối với những trường hợp u lớn gây ra hiệu ứng choáng chỗ, chèn ép cuống tuyến yên và ngăn cản đường vận chuyển chất ức chế tiết PRL từ vùng hạ đồi xuống tuyến yên, những trường hợp này gọi là “giả u tuyến yên tiết PRL”; PRL máu tăng trong các trường hợp này thường do u có kích thước lớn chèn ép cuống tuyến yên gây nên sự tăng tiết.
U tuyến yên được mô tả đầu tiên bởi Pierre Marie vào năm 1886, gồm các triệu chứng to đầu chi và hố yên giãn rộng. Trước đây do không có các phát hiện cận lâm sàng nên người bệnh được chẩn đoán khi có đầy đủ các triệu chứng chèn ép thần kinh thị giác, tăng áp lực nội sọ, rối loạn nội tiết. Ngày nay, nhờ những tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh, các ngành khoa học cơ bản, đã có thể định lượng được hầu hết các hormone với độ đặc hiệu và độ chính xác cao. Đơn vị đo lường không chỉ là gam, miligam mà là microgram, nanogam 10-9 , thậm chí picogam 10 -12 , vì vậy cho phép chẩn đoán các rối loạn rất nhỏ với độ chính xác ngày càng cao, chẩn đoán sớm khi mới xuất hiện các triệu chứng nhẹ, chưa đầy đủ, rất hiếm gặp những hội chứng nội tiết kinh điển.
Hồng Sơn