[Đăng ngày: 18/12/2015]
Tại Hội nghị khoa học thường niên Hội phẫu thuật thần kinh Việt Nam lần thứ 16 được tổ chức vào tháng 12/2015 tại TP Nha Trang, tác giả Đặng Đỗ Thanh Cần – Khoa Ngoại thần kinh, Bệnh viện Nhi Đồng 2 đã có báo cáo nghiên cứu “Phẫu thuật nội soi điều trị đầu nước ở trẻ em”.
Đây là nghiên cứu tiền cứu báo cáo loạt ca lâm sàng tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 6/2013 đến tháng 6/2015. Có 44 trường hợp tác giả nghiên cứu, tuổi từ 1 – 28 tháng, tuổi trung bình là 8,2 tháng. Tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng tuổi là 77,3%, trẻ nam chiếm tỷ lệ 47,7%. Kết quả nghiên cứu cho thấy triệu chứng lâm sàng của đầu nước thay đổi nhiều theo lứa tuổi, mức độ tiến triển nặng của đầu nước. Có gần 30% có triệu chứng thóp phồng, 23% triệu chứng đầu to, triệu chứng dấu mặt trời lặn chiếm tỷ lệ gần 16%; đây là những triệu chứng nổi bật nhất giúp dễ dàng nhận định bệnh đầu nước.
Theo tác giả nghiên cứu, khi trẻ càng lớn, trên 12 tháng tuổi, các triệu chứng này càng ít đi, chủ yếu thấy vòng đầu to, một số ít trường hợp có giảm trương lực cơ cổ. Những trường hợp đầu nước diễn tiến nhanh một vài tháng sau sinh, có các dấu hiệu triệu chứng lâm sàng rầm rộ với vòng đầu tăng nhanh, lé mắt, mặt trời lặn, thóp phồng và ói liên tục.
Về nguyên nhân đầu nước, tác giả nghiên cứu nhận định nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất là hẹp cống não bẩm sinh có 20 trường hợp (45,5%); tiếp theo là nguyên nhân Dandy – Walker 13 trường hợp; các nguyên nhân còn lại là dị tật sọ mặt, thoát vị tủy màng tủy, xuất huyết vùng mầm và nguyên nhân do nhiễm trùng.
Đối với thực hiện phẫu thuật nội soi, tác giả nghiên cứu đã thực hiện 38 trường hợp là phẫu thuật nội soi mở thông sàn não thất III ETV cho những trẻ lớn hơn 12 tháng tuổi; 6 trường hợp thực hiện ETV cộng với CPC cho các trẻ nhỏ hơn 12 tháng.
Kết quả phẫu thuật cho thấy, tỷ lệ thành công chung của phẫu thuật là 88,6%. Có 5 trường hợp bị thất bại phải đặt Shunt sau đó, trong đó có hội chứng Dandy – Walker 2 trường hợp, thoát vị tủy màng tủy 1 trường hợp; viêm màng não 1 trường hợp, xuất huyết vùng mầm 1 trường hợp. Tất cả các trường hợp thất bại đều xảy ra trong thời gian sớm trước một tháng, không có trường hợp nào thất bại trễ sau một tháng.
Theo tác giả Đặng Đỗ Thanh Cần, tỷ lệ thành công phẫu thuật cao nhất trên 90% là hẹp cống não bẩm sinh, dị tật sọ mặt. Các trường hợp khác như dị dạng Dandy – Walker, thoát vị tủy màng tủy chỉ thành công ở mức 50 – 80%. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thoát vị tủy màng tủy, viêm màng não, xuất huyết não thất các cấu trúc giải phẫu sẽ rất thay đổi và gây khó khăn cho phẫu thuật. Nhiều trường hợp kíp mỗ phải chuyển sang đặt VP shunt. Đối với các trường hợp đầu nước trong dị tật sọ mặt, cấu trúc bễ trước cầu não thường rất hẹp, phẫu thuật ETV sẽ khó hơn và đòi hỏi phẫu thuật viên nhiều kỹ năng hơn.
Tác giả nghiên cứu cũng báo cáo tỷ lệ biến chứng chung sau mổ là 15,8%; trong đó biến chứng nhiễm trùng vết mổ tại chỗ 6,8%; dò dịch não tủy 4,5%, không có trường hợp nào bị viêm màng não sau mổ. Một điều đáng ghi nhận là Bệnh viện Nhi Đồng 2 đã hợp tác với Bệnh viện Children’s Hospital Alabama, phẫu thuật trực tuyến qua phần mềm VIPAR, tại Mỹ có thể nhìn thấy trực tiếp phẫu thuật được thực hiện tại Việt Nam và ngược lại, vì vậy giúp cho việc trao đổi thực hiện phẫu thuật an toàn và hiệu quả hơn. Trung bình thời gian thực hiện phẫu thuật từ 40 – 150 phút.
Chúng ta biết rằng Đầu nước ở trẻ em là một bệnh lý thường gặp trên lâm sàng. Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng đầu nước, có thể bẩm sinh hay mắc phải, có thể do tắc nghẽn lưu thông hay không do tắc nghẽn. Từ năm 1970 phương pháp điều trị đầu nước phổ biến là đặt dẫn lưu não thất - ổ bụng (VP shunt). Tuy nhiên phương pháp này bộc lộ nhiều khuyết điểm, bệnh nhân phải lệ thuộc suốt đời vào shunt, tuổi thọ của shunt giảm rất nhanh do mức chức năng; biến chứng tắc, nhiễm trùng shunt tăng lên. Từ năm 1990, sự phát triển của hệ thống ống soi, nguồn sáng lạnh, chất lượng hình ảnh được cải thiện đáng kể giúp cho phẫu thuật nội soi phát triển rất nhanh. Phẫu thuật nội soi mở thông sàn não thất III (ETV) để tạo một sự thông thương mới, từ não thất III ra trực tiếp khoang dưới nhện giúp thành công được 80 – 90% những đầu nước tắc nghẽn cống não và đường thoát não thất IV. Phẫu thuật nội soi mở thông sàn não thất III có hoặc không kèm đốt đám rối mạch mạc đã được ứng dụng tại một số trung tâm ở Việt Nam từ hơn 15 năm qua.
Nguyễn Phương
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 163

Số lượt truy cập: 9370334

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang