
Suy tim là hậu quả của nhiều bệnh lý khác nhau như bệnh nội mạc tim, cơ tim, màng ngoài tim. Theo báo cáo Hội Tim mạch châu Âu, năm 2012 có khoảng 1-2% người trưởng thành bị suy tim. Tại các nước trong khu vực như Jakarta tỷ lệ suy tim chiếm 2,6-3,8% dân số; ở Bangkok Thái Lan tỷ lệ này là 1,8%. Tại Việt Nam theo dự báo có từ 320.000 đến 1,6 triệu người suy tim cần điều trị.
Điều trị suy tim là điều trị tối ưu trên từng bệnh nhân cụ thể, theo dõi trong quá trình điều trị suy tim. Đặc biệt đối với bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn việc điều trị cần chú ý nhiều hơn.
Tại Hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức tháng 12/2015, tác giả Trần Thúc Khả và cộng sự trường Đại học Y Dược Huế đã báo cáo “Nghiên cứu đáp ứng lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn điều trị theo ACC/AHA 2014 bằng NT-ProBNP”. Nghiên cứu có 2 mục tiêu là (1) đánh giá các biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng, NT-ProBNP ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn trước và sau điều trị theo ACC/AHA 2014; (2) so sánh các biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng, NT-ProBNP ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn trước và sau điều trị theo ACC/AHA 2014.
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015. Có 107 đối tượng tự nguyện tham gia trong đó 70 người suy tim phân suất tống máu bảo tồn và 37 người suy tim phân suất tống máu bảo tồn giới hạn. Các đối tượng nghiên cứu được đánh giá độ suy tim theo NYHA I-IV, đánh giá suy tim theo ACC/AHA. Đánh giá các biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng sau điều trị đối tượng nghiên cứu 30 ngày bằng các biến số: triệu chứng cơ năng, triệu chứng thực thể suy tim, điện tim, chỉ số siêu âm đường kính nhĩ trái (LA), đường kính tâm trương thất trái (LVDd), đường kính tâm thu thất trái (LVDs), phân suất tống máu (EF). Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 52 nam, 55 nữ tham gia nghiên cứu, độ tuổi trung bình của nữ là 75,5 cao hơn so với nam giới là 71,7 tuổi. Nhóm suy tim phân suất tống máu bảo tồn giới hạn (37 người) có huyết áp tâm trương 80,00 ± 9,43 mmHg cao hơn nhóm suy tim phân suất tống máu bảo tồn là 75,5 ± 11,5 mmHg (p<0,05).
Nồng độ NT-ProBNP ở nhóm phân suất tống máu 41-49%, cao hơn so với nhóm phân suất tống máu ≥ 50% (p<0,05), tác giả nghiên cứu cho rằng chứng tỏ phân suất tống máu (EF) tỷ lệ nghịch với nồng độ NT-ProBNP. Phân suất tống máu trung bình nhóm suy tim phân suất tống máu bảo tồn giới hạn thấp hơn nhóm suy tim phân suất tống máu bảo tồn có ý nghĩa thống kê (p<0,001), tác giả giải thích do thất trái trải qua quá trình tái cấu trúc, phì đại đồng tâm, làm giảm dung tích thất trái. Nhóm phân suất tống máu 41-49%, bệnh nhân suy tim theo phân độ NYHA III có nồng độ NT-ProBNP cao hơn bệnh nhân NYHA II (p<0,001). Tương tự, khi phân suất tống máu ≥ 50% nồng độ NT-ProBNP bệnh nhân NYHA III cao hơn bệnh nhân NYHA II (p< 0,01) chứng tỏ NYHA càng cao, nồng độ NT-ProBNP càng tăng.
Đối với kết quả nồng độ NT-ProBNP ở bệnh nhân suy tim trước điều trị, tác giả nghiên cứu thấy rằng đều ở mức cao hơn so với một số nghiên cứu trong nước vì các lý do về tuổi đối tượng nghiên cứu cao, chỉ số khối cơ thể thấp và tần suất rung nhĩ cao, đối với rung nhĩ đây là một bệnh đồng mắc thường gặp nhất với suy tim phân suất tống máu bảo tồn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trước khi điều trị nồng độ NP-ProBNP tương quan nghịch với phân suất tống máu (EF) với r bằng âm 0,251 (p<0,05). Nồng độ NP-ProBNP tương quan thuận với phân độ suy tim theo NYHA sau khi điều trị với r = 0,647 (p<0,001). Điều này chứng tỏ nồng độ NT-ProBNP càng tăng thì tình trạng suy tim càng nặng theo phân độ NYHA.
Tác giả nghiên cứu báo cáo chọn lựa thuốc cho bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn phụ thuộc 2 yếu tố đó là điều trị bệnh lý căn bản và hiệu quả có lợi của thuốc trên sinh lý bệnh của người bệnh. Điều trị đích là tác động vào hệ renin-angiotensin-aldosterone (RAA), nghiên cứu này tác giả điều trị bằng UCMC/CTTA 74,3%. Sử dụng UCMC ngoài mục đích dự phòng còn bảo tồn chức năng thất trái, giảm sự mất đồng bộ thất trái, ngăn ngừa tái cấu trúc thất và xơ hóa sợi cơ tim, giảm đáng kể đề kháng mạch máu hệ thống, giảm thể tích cuối tâm trương. UCMC/CTTA có tác dụng lên hệ RAA làm giãn mạch và cải thiện chức năng thất, có thể lựa chọn từ đầu trong chiến lược điều trị suy tim. Tuy nhiên tác giả nghiên cứu lưu ý vấn đề sử dụng UCMC còn nhiều ý kiến khác nhau vì vậy cần lưu ý trong thực hành điều trị trên người bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau điều trị nồng độ NT-ProBNP giảm có ý nghĩa theo các triệu chứng: khó thở gắng sức (p<0,001); hồi hộp, mệt (p<0,05); phù (p<0,01); kích thước nhĩ trái và kích thước thất trái cuối tâm thu có ý nghĩa sau điều trị (p<0,05); có 65,7% đối tượng nghiên cứu đạt mức nồng độ NT-ProBNP 200pmol/L (mức 1692pg/ml); có gần 63% đối tượng nghiên cứu có nồng độ NT-ProBNP giảm nhanh từ 30% trở lên sau 6 tháng theo dõi. Như vậy nồng độ NT-ProBNP có giá trị thực tiễn trong phân tầng nguy cơ, theo dõi điều trị và tiên lượng suy tim phân suất tống máu giảm cũng như suy tim phân suất tống máu bảo tồn./.
Nghi Anh