Trong lâm sàng tâm thần học, đau, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ là những triệu chứng thường gặp liên quan đến bệnh lý thực thể và chức năng. Trong đó, các rối loạn liên quan đến stress là nhóm bệnh lý mà đau biểu hiện đa dạng với những tính chất khá độc đáo.

Một số nghiên cứu cho thấy triệu chứng đau chiếm tới 45% trong rối loạn lo âu và hoảng sợ, trong đó 80% là đau ngực. Trong nghiên cứu của Gay.C và Boureau.F (1995), có tới 50% đau đồng phát với trầm cảm trong các bệnh lý rối loạn dạng cơ thể, và mang tính chất mạn tính. Trong các rối loạn liên quan đến stress sau sang chấn, đau được phát hiện chiếm tỷ lệ 20%, chủ yếu là đau đầu, đau bụng và đau ngực.
Vừa qua tác giả Nguyễn Văn Dũng cùng cộng sự Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai thực hiện nghiên cứu mô tả lâm sàng cắt ngang từng ca bệnh, báo cáo đề tài nghiên cứu “Lâm sàng triệu chứng đau trong một số rối loạn liên quan đến stress”. Đối tượng nghiên cứu là 56 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn liên quan đến stress (theo ICD 10, 1992) có triệu chứng đau, điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần trong năm 2016.
Nghiên cứu mô tả lâm sàng từng ca, có phối hợp sử dụng trắc nghiệm tâm lý BECK để đánh giá trạng thái trầm cảm, ZUNG để đánh giá tình trạng lo âu. Đồng thời, nghiên cứu đặc điểm tính cách người bệnh và các rối loạn chức năng khác trên từng bệnh nhân riêng biệt.
Bác sĩ Dũng phân tích báo cáo, kết quả nghiên cứu rối loạn đau chức năng là thường gặp, và hầu hết đã có một thời gian điều trị theo đơn tại phòng khám đa khoa hoặc điều trị nội trú ở các chuyên khoa: thần kinh (35,7%), tim mạch (23,2%), tiêu hóa (16,1%), cơ xương khớp (17,8%). Rối loạn đau chức năng xảy ra thường xuyên và kéo dài làm cho bệnh nhân khó chịu, họ tái khám và điều trị nhiều tháng nhiều năm tại các chuyên khoa đó nhưng ít có kết quả.
Triệu chứng đau thường gặp ở lứa tuổi 31-40 tuổi (48,21%), một phần nhỏ ở tuổi trưởng thành 21-30 tuổi (21,42%), rất ít gặp ở tuổi trên 50 (10,71%). Nghiên cứu thời gian bị bệnh, tác giả thấy bệnh dao động từ 6 tháng - 5 năm. Thường gặp nhiều hơn cả từ 1 – 2 năm (57,14%). Khuynh hướng bệnh tiến triển liên tục dẫn đến mạn tính nhiều năm với triệu chứng đau chức năng đa dạng luôn thay đổi. Người bệnh đã trải qua nhiều dịch vụ y tế ban đầu, kết quả khám nghiệm các chuyên khoa đều không phát hiện thấy bất thường và không giải thích được mối tương quan về mức độ của các triệu chứng với sự bận tâm quá mức của người bệnh.
Bác sĩ Dũng báo cáo, triệu chứng đau gặp nhiều trong rối loạn lo âu với tỷ lệ 51,9%. Đau xuất hiện trong các rối loạn này từ giai đoạn rất sớm, cường độ dễ thay đổi theo trạng thái lo âu. Người bệnh than phiền đau bỏng rát hoặc buốt nhói, xảy ra từng cơn, nhất thời, luân chuyển, liên quan chặt chẽ đến cảm xúc căng thẳng. Trong các rối loạn dạng cơ thể, đau chiếm tỷ lệ 35,7%, đau với cảm giác đè nặng, đau liên tục hơn là từng cơn, với cảm giác mơ hồ, làm biến đổi cảm xúc, bệnh nhân trở nên buồn chán và đau khổ. Bởi vậy, một số tác giả cho rằng, trong các rối loạn dạng cơ thể, đặc biệt trong rối loạn cơ thể hóa, bên cạnh triệu chứng đau thường có triệu chứng trầm cảm, và các tác giả coi đó là hiện tượng “cơ thể hóa cảm xúc”. Trong nghiên cứu, tuy triệu chứng đau gặp tỷ lệ không cao (12,5%) trong phản ứng với stress trầm trọng, nhưng đặc điểm kiểu đau, tính chất đau, cường độ đau có nhiều biểu hiện giống như đau trong rối loạn lo âu. Nghiên cứu cho thấy có tới 71,4% người bệnh đau từng cơn, cảm giác buốt nhói, diễn ra nhất thời và mang tính chất luân chuyển, liên quan đến trạng thái cảm xúc căng thẳng.
Triệu chứng đau dựa trên cá tính riêng của người bệnh và sự hình thành cá tính đó; cũng như các đặc điểm của phản ứng thuộc về cấu trúc cảm xúc, đặc biệt là sự biến đổi của cảm xúc và những tác động của chúng đến cơ thể, được nhóm nghiên cứu vận dụng khảo sát trên từng bệnh nhân riêng biệt. Do vậy, những biểu hiện cảm xúc về mặt cơ thể gọi là cơ thể hóa cảm xúc trong các rối loạn liên quan đến stress khác nhau biểu hiện bằng những triệu chứng đau chức năng, và những triệu chứng thần kinh thực vật nội tạng phong phú và đa dạng trên người bệnh.
BS.Dũng phân tích, nhận xét các tình huống về tính đặc hiệu các xung đột cảm xúc và đặc điểm của các nét cảm xúc trên từng người bệnh đã góp phần hình thành nên sự phong phú và đa dạng về đặc điểm, tính chất và vị trí của triệu chứng đau trong các rối loạn liên quan đến stress. Điều đó đã gây ra những nhầm lẫn không ít trong chẩn đoán phân biệt và điều trị kém hiệu quả của các thầy thuốc nội khoa và chuyên khoa tâm thần.
Bác sĩ Dũng cũng cho biết, theo y văn những bệnh nhân mắc các rối loạn liên quan đến stress đều cho thấy bệnh cảnh lâm sàng triệu chứng đau biểu hiện phong phú và đa dạng trên các vị trí, cơ quan khác nhau của cơ thể. Từ đó, hình thành những phức bộ triệu chứng thuộc về các chuyên khoa, phản ánh mối quan hệ của tác động tâm thần và cơ thể bằng các nhân tố liên quan (sang chấn tâm lý, yếu tố thể chất và đặc tính nhân cách).
Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân, các triệu chứng rối loạn cảm xúc mờ nhạt, bệnh nhân chủ yếu than phiền về triệu chứng đau đa dạng, dai dẳng của mình. Triệu chứng đau dù xảy ra từng cơn hay liên tục với các tính chất khác nhau bỏng rát, cháy buốt hoặc cảm giác đè nặng,… đều gây ra rối loạn giấc ngủ, giảm ăn ngon miệng, gây ra cảm giác mệt mỏi, chậm chạm về tâm lý vận động cho người bệnh. Giống như nhận xét của nhiều tác giả sự xuất hiện triệu chứng đau trong các rối loạn liên quan đến stress liên quan đến những biến đổi cảm xúc của người bệnh, liên quan đến tình trạng rối loạn khí sắc trong những điều kiện đời sống tâm lý khó chịu, những khó khăn hay xung đột, cùng với những nét biến đổi về đời sống tâm lý cá nhân mà chúng tôi nhận thấy trong công trình nghiên cứu.
Ở đây, điều đáng chú ý là trong tiền sử của bệnh nhân, phần lớn đều tìm thấy yếu tố chấn thương tâm lý. Yếu tố đó có tính chất khởi động và làm biến đổi những phản ứng sinh lý kéo dài thông qua hệ thống thần kinh thực vật và cơ quan nội cảm thụ tác động đến các cơ quan nội tạng gây ra những biến đổi chức năng khác nhau. Điều đó cho thấy sự hình thành triệu chứng đau theo một cơ chế tâm – sinh học phức tạp, đòi hỏi thầy thuốc thực hành phải có quan điểm tâm – thể trong chẩn đoán và điều trị.
Tác giả nghiên cứu có kết luận: (1) Triệu chứng đau liên quan đến stress thường gặp ở độ tuổi lao động 20-40 (69,63%); khuynh hướng tiến triển liên tục, trở nên mạn tính: 6 tháng – 1 năm (28,5%), 2-5 năm (57,14%). (2) Bệnh nhân đã khám và điều trị ở nhiều chuyên khoa trước khi nhập viện SKTT: ở phòng khám đa khoa (48,2%), chuyên khoa thần kinh (35,7%), tim mạch (23,2%), tiêu hóa (16,1%). Đau gặp nhiều ở vị trí đầu-mặt-cổ (76,8%), ở ngực (67,8%), lưng-thắt lưng (53,6%), các khớp và bụng (44,6%). Tính chất đau chủ yếu là mơ hồ (44,7%), có khi buốt nhói (23,2%), 19,6% đau với cảm giác đè nặng, và 12,5% cảm giác đau bỏng rát. Đau diễn ra nhất thời, luân chuyển (85,7%), và tăng lên khi tình trạng cảm xúc lo âu, căng thẳng (73,2%).
Huy Hoàng