Theo các chuyên gia tâm thần, việc quản lý, chăm sóc và điều trị các bệnh nhân rối loạn tâm thần, bác sĩ rất coi trọng các biểu hiện rối loạn hành vi.
Các rối loạn hành vi thường gây ra nhiều hậu quả cho bản thân bệnh nhân, gia đình và xã hội; nhất là rối loạn hành vi ở bệnh nhân loạn thần; cụ thể những hậu quả như tự sát, phá phách, đốt nhà, giết người gây thiệt hại vật chất, căng thẳng về tinh thần và ảnh hưởng đến sức khỏe của người thân trong gia đình người bệnh, gây mất trật tự và an toàn xã hội.
Bệnh tâm thần phân liệt chiếm từ 0,5 – 1% dân số. Bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid chiếm từ 40-60% tổng số bệnh nhân tâm thần phân liệt. Các nghiên cứu tác giả nước ngoài cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tâm thần có hành vi nguy hiểm cho xã hội chiếm 12% tổng số bệnh nhân nhập viện. Các hậu quả gây ra của bệnh tâm thần phân liệt có tính thời sự, đặc biệt đối với bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid.
Từ tháng 5/2015 – 12/2015, nhóm tác giả Nguyễn Văn Dũng cùng cộng sự Viện Sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai thực hiện nghiên cứu tiến cứu có hồi cứu báo cáo đề tài “Đặc điểm các hành vi gây nguy hiểm ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid”. Đối tượng nghiên cứu gồm 70 bệnh nhân được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ICD-10 (F20.0); 35 bệnh nhân đang điều trị tại Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viện Bạch Mai và 35 bệnh nhân đang điều trị tại Viện Giám định Pháp y Trung ương. Nhóm tuổi 25-34 chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,28%; không có trường hợp nào dưới 14 tuổi. Đối tượng nghiên cứu tâm thần phân liệt thể Paranoid có hành vi nguy hiểm trong giai đoạn bệnh đang tiến triển, tỷ lệ đến 81,42%; nhóm bệnh đang giai đoạn ổn định chiếm 18,58% (p<0,01).
BS. Dũng báo cáo, bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid là bệnh loạn thần nặng nhất, tiến triển mãn tính, hay tái phát và làm mất sức lao động nặng nề. Chi phí điều trị tốn kém. Trong đối tượng nghiên cứu có 82,85% là nam giới. Số đối tượng nghiên cứu có hành vi nguy hiểm sau khi mắc bệnh 1-5 năm là gần 59%. Tác giả nghiên cứu lưu ý hiện nay điều kiện kinh tế khó khăn, dịch vụ chăm sóc điều trị bệnh tâm thần phân liệt chưa phát triển, người bệnh không được phát hiện sớm, điều trị chuyên khoa kịp thời nên không hạn chế được hành vi nguy hiểm của người bệnh. Trong gia đình bệnh tiến triển cấp tính các biểu hiện loạn thần hoang tưởng, ảo giác rầm rộ, chi phối hành vi người bệnh nên người bệnh dễ có hành vi nguy hiểm, đặc biệt là nam giới; trong nghiên cứu nghề nghiệp đối tượng nghiên cứu đa phần là nông dân và không có nghề nghiệp.

Theo BS. Dũng, thể Paranoid là thể chủ yếu của bệnh tâm thần phân liệt, chiếm 42-60%, Trong đối tượng nghiên cứu, có 59 trường hợp có hành vi nguy hiểm do bệnh lý chi phối như hoang tưởng bị hại, hoang tưởng bị chi phối. Có 81 trường hợp hoang tưởng bị hại kèm ảo giác. Triệu chứng rối loạn tri giác chủ yếu là ảo thanh ra lệnh; hoang tưởng bị truy hại, bị chi phối. Các hoang tưởng tồn tại trong một thời gian bệnh tiến triển từ 1 tháng hoặc lâu hơn và trong các đợt bệnh tái phát. Hành vi đối tượng nghiên cứu có tính đột ngột, phi lý, không liên quan, rời rạc. Đối tượng nghiên cứu đột ngột tấn công người xung quanh, tự sát hoặc tự hủy hoại thân thể.
Đối với yếu tố ngoại lai thúc đẩy hành vi nguy hiểm, BS. Dũng báo cáo trong giai đoạn bệnh tiến triển, yếu tố xã hội chiếm 50%, gồm các phản ứng như cho rằng bệnh của mình quá nặng không chữa khỏi; tấn công người xung quanh khi cho rằng họ xúc phạm, coi thường, đối với nhóm có giám định có phản ứng tâm lý xung đột chống người thi hành công vụ, xô xát đánh nhau bạn bè, thù hằn ghen tuông vô cớ.
Đối với yếu tố gia đình chiếm hơm 30% trường hợp. Có những mâu thuẫn nhỏ cũng là yếu tố thuận lợi dẫn đến hành vi nguy hiểm mà ở người bình thường kìm chế được. Trong giai đoạn bệnh đang tiến triển hành vi nguy hiểm thường là kết hợp giữa 2 yếu tố: bệnh lý chi phối và ngoại lai thúc đẩy.
Tác giả nghiên cứu kết luận, đứng hàng đầu tính chất hành vi nguy hiểm của đối tượng nghiên cứu là các hành vi hung bạo (82%); những phương tiện bệnh nhân sử dụng là những vật dụng sẵn có và dễ sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày, trong đó dùng dao có tỷ lệ 45%; nhằm vào người thân thích chiếm 54%; Đứng thứ hai là hành vi tự sát không thành bằng các hình thức như uống thuốc ngủ tự sát, dùng dây thắt cổ, nhảy xuống ao… Có 2,7% đối tượng nghiên cứu có hành vi tự hủy hoại thân thể.
Hành vi nguy hiểm của đối tượng nghiên cứu có tính chất đột ngột, phi lý, không liên quan, rời rạc, thiếu hòa hợp, khó hiểu. Các hành vi nguy hiểm thường đột ngột. Thời điểm có hành vi nguy hiểm là giai đoạn bệnh đang tiến triển chiếm 81%; số lần có hành vi nguy hiểm gặp nhiều nhất là 1-2 lần chiếm 78%. Nguyên nhân gây ra những hành vi nguy hiểm là do bệnh lý chi phối với tỷ lệ 84%.
Hoa Phượng