Từ tháng 1/2017 đến tháng 12/2017, BS Dương Xuân Lực – Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên thực hiện nghiên cứu cắt ngang, báo cáo đề tài “Nồng độ NT-proBNP huyết tương của bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên”.
Đối tượng nghiên cứu là 76 bệnh nhân THA điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, được chẩn đoán dựa vào tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới và hội THA quốc tế (ISH), và theo JNC VI, chẩn đoán THA khi huyết áp tâm thu > 140 mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương > 90 mmHg. Phân loại dựa vào khuyến cáo JNC VII (1997).

Bác sĩ Lực báo cáo, các xét nghiệm nồng độ Triglycetid, Glucose, NT-proBNP huyết tương tăng so với bình thường ở các bệnh nhân THA, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Theo nhiều nghiên cứu lượng lipid tăng cao là một nguyên nhân gây tổn thương thành mạch, mất cân bằng giữa sản xuất prostacyclin và thromboxan, hậu quả là co thắt mạch máu, tăng huyết áp. Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu xem xét tương quan giữa các giá trị cholesterol, Triglycetid, HDL-C, LDL-C với sự thay đổi huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương huyết áp trung bình của các bệnh nhân THA. Tác giả nhận thấy có mối tương quan thuận giữa các xét nghiệm glucose, cholesterol, triglycetid, HDL-C, LDL-C, creatinin, CPK với giá trị huyết áp tâm thu và huyết áp trung bình của các bệnh nhân THA. Tuy nhiên, mối tương quan này yếu, do vậy nếu so sánh theo các giai đoạn THA sẽ không thấy rõ được sự khác biệt.
Trong nghiên cứu, tác giả cho biết có sự tương quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với một số chỉ số hình thái thất trái: có tương quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với đường kính thất trái cuối tâm trương LVĐ (r = 0,4), chiều dày vách liên thất cuối tâm trương IVSd (r = 0,32), chiều dày thành sau thất trái cuối tâm trương LVPWd (r = 0,14), khối cơ thất trái LVM (r = 0,6) và chỉ số khối cơ thất trái LVMI (r = 0,6) với p < 0,01. Nghiên cứu của Sameh El Maragh et al (2013), trên bệnh nhân THA có phì đại thất trái trên điện tâm đồ và chức năng thất trái bình thường, nồng độ NT-proBNP huyết thanh tăng hơn 8 lần so với người khỏe mạnh và tương quan trung bình với khối lượng cơ thất trái trên hình ảnh cộng hưởng từ (r = 0,47; p = 0,0002); nồng độ BNP trong máu bệnh nhân THA có mối tương quan giữa chỉ số khối cơ thất trái (r = 0,34; p = 0,0002).

Về mối tương quan với chức năng thất trái, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan nghịch mức độ trung bình giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với phân suất tổng máu EF (r = - 0,6; p < 0,01). Hạn chế của nghiên cứu là chưa đánh được tương quan với mức độ rối loạn chức năng tâm trương. Tuy nhiên, với những số liệu kể trên cho thấy có mối tương quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với sự biến đổi hình thái và chức năng thất trái trên siêu âm tim ở bệnh nhân THA. Kết quả nghiên cứu cũng tương tự nghiên cứu của Talwar S cho thấy định lượng nồng độ NT-proBNP ở bệnh nhân THA có thể cho biết có hay không giãn thất trái hoặc rối loạn chức năng thất trái ở bệnh nhân THA. Nó được ví như xét nghiệm HbA1C cung cấp thông tin về kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường. Nghiên cứu cũng khuyến cáo: peptid này cần được ứng dụng trong lâm sàng nhằm phát hiện sớm biến chứng giãn thất trái hoặc rối loạn chức năng thất trái ở bệnh nhân THA đang điều trị nội trú. Trong nghiên cứu LIFE, chứng minh ở bệnh nhân THA có phì đại thất trái, NT-proBNP được đánh giá như một chất chỉ điểm có khả năng tiên đoán những biến cố tim mạch (tử vong tim mạch, đột quỵ và nhồi máu cơ tim) trong thời gian theo dõi 5,5 năm.
Cùng với siêu âm tim, NT-proBNP đánh giá chính xác tình trạng chức năng tim. Có nhiều bằng chứng mạnh mẽ ủng hộ việc sử dụng kết hợp NT-proBNP và siêu âm trong việc chẩn đoán và quản lý bệnh tim. NT-proBNP hoặc BNP có thể hướng dẫn sử dụng siêu âm hiệu quả hơn trong sàng lọc rối loạn chức năng thất trái không triệu chứng; cải thiện độ chính xác của chẩn đoán suy tim; cung cấp phân tầng nguy cơ mạnh hơn trong tất cả các giai đoạn của suy tim và hướng dẫn đưa ra các quyết định can thịp phù hợp, kịp thời.
Tác giả nghiên cứu cho biết trong nghiên cứu, không có sự tương quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với chỉ số Sokholov Lyon (r = 0,18; p > 0,05). Như vậy, điện tim có thể không phát hiện hết được các trường hợp dày thất trái trên lâm sàng, siêu âm tim không phải lúc nào cũng thực hiện được. Do đó cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để chứng minh vai trò của peptide natri lợi niệu khi sàng lọc các trường hợp không triệu chứng, đồng thời nên chú ý vào nhóm bệnh nhân có nguy cơ của bệnh suy tim như đái tháo đường nặng, cao huyết áp lâu năm hoặc bệnh nhân có bệnh lý mạch vành.
Tác giả nghiên cứu có khuyến nghị, trong các xét nghiệm hóa sinh, xét nghiệm định lượng nồng độ NT-proBNP nên được sử dụng thường quy trên lâm sàng kết hợp với siêu âm tim và các phương tiện chẩn đoán khác nhằm phát hiện sớm biến chứng tim trên bệnh nhân tăng huyết áp.
Mai Trang