[Đăng ngày: 23/07/2018]
Bệnh mạch vành là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, chiếm 13,2% số ca tử vong trên toàn thế giới. Trong đó, hơn 80% xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Bệnh mạch vành bao gồm đau thắt ngực ổn định và hội chứng vành cấp; hội chứng vành cấp là nguyên nhân chính gây tử vong ở các bệnh nhân bệnh bệnh mạch vành. Ở Việt Nam, hội chứng vành cấp cũng là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất.

Phân tích gộp bởi Chen và cộng sự (2009) từ 17 nghiên cứu (8 thử nghiệm lâm sàng và 9 nghiên cứu đoàn hệ) đánh giá nguy cơ xuất hiện biến cố tim mạch trên 56.748 bệnh nhân nhồi máu cơ tim có tăng huyết áp mắc kèm. Kết quả phân tích gộp từ 8 thử nghiệm lâm sàng cho thấy bệnh nhân nhồi máu cơ tim có tăng huyết áp sẽ tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân (RR 1,19; 95%CI 1,13-1,26) và do bệnh lý tim mạch (RR 1,29; 95%CI 1,09-1,53). Kết quả cũng tương tự cho phân tích gộp từ 9 nghiên cứu đoàn hệ với tử vong do mọi nguyên nhân (RR 1,46; 95%CI 1,34-1,61) và do bệnh lý tim mạch (RR 1,54; 95%CI 1,22-1,93). Các nghiên cứu gần đây cũng cho kết quả tương tự. Kết quả cho thấy bệnh nhân nhồi máu cơ tim có tiền sử tăng huyết áp sẽ tăng nguy cơ tử vong; tuy nhiên, nguy cơ này giảm theo thời gian, điều này cũng phản ảnh những thành tựu đạt được trong việc kiểm soát các bệnh này những năm gần đây.

Từ tháng 1/2015 đến tháng 4/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thắng – Trường Đại học Y Dược Cần Thơ thực hiện nghiên cứu đoàn hệ về ảnh hưởng của tăng huyết áp trên biến cố tử vong trong sáu tháng sau xuất viện ở bệnh nhân hội chứng vành cấp.
Tác giả nghiên cứu cho biết đối tượng nghiên cứu được theo dõi trong 6 tháng sau xuất viện. Tiêu chuẩn chọn các bệnh nhân xuất viện với một trong những chẩn đoán: hội chứng vành cấp không ST chênh lên (đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim không ST chênh lên và hội chứng vành cấp có ST chênh lên (hay nhồi máu cơ tim có ST chênh lên). Các bệnh nhân nhập viện nhiều lần trong khoảng thời gian chọn mẫu, chỉ đánh giá dựa vào lần nhập viện đầu. Tiêu chuẩn loại trừ: (1) các bệnh nhân được chuyển viện từ bệnh viện khác đến bệnh viện nghiên cứu hoặc từ bệnh viện nghiên cứu chuyển viện đến bệnh viện khác; (2) bệnh nhân không hoàn thành đợt điều trị (trốn viện, xuất viện với tiên lượng xấu và không được chỉ định thuốc).

Số liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và phỏng vấn bệnh nhân. Thông tin ban đầu từ hồ sơ bệnh án bao gồm: đặc điểm dịch tễ, yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành, tiền sử bệnh, bệnh mắc kèm, chẩn đoán khi xuất viện, can thiệp mạch vành qua da (percutaneous coronary intervention, PCI). Trong suốt thời gian theo dõi, bệnh nhân/người thân chăm sóc được phỏng vấn vào ngày 181 sau xuất viện (hoặc trong 2 tuần sau đó) để thu thập các thông tin tử vong.
Bệnh nhân có tăng huyết áp mắc kèm được xác định dựa vào ghi nhận tiền sử bệnh và bệnh mắc kèm trong hồ sơ bệnh án. Ở thời điểm nghiên cứu, bệnh nhân được chẩn đoán tăng huyết áp khi có huyết áp tâm thu > 140mmHg hoặc huyết áp tâm trương > 90mmHg. Bệnh nhân được phân vào 2 nhóm: nhóm bệnh nhân hội chứng vành cấp không có tăng huyết áp mắc kèm và nhóm bệnh nhân hội chứng vành cấp có tăng huyết áp mắc kèm.

BS Nguyễn Thắng báo cáo có 706 trường hợp nhập viện với chẩn đoán hội chứng vành cấp ở thời điểm ban đầu, 610 (86,4%) bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu. Có 15 (12,9%) bệnh nhân không theo dõi được ở nhóm không tăng huyết áp và 83 (16,8%) ở nhóm có tăng huyết áp. Tổng cộng có 512 bệnh nhân hoàn thành nghiên cứu và được chọn vào phân tích. Lý do không theo dõi được bệnh nhân không xác định được vì không thể liên lạc với bệnh nhân hoặc người thân.
Ở thời điểm 6 tháng sau xuất viện, nhóm không có tăng huyết áp mắc kèm có 101 (19,7%) bệnh nhân và nhóm có tăng huyết áp mắc kèm có 411 (80,3%) bệnh nhân theo dõi được. Tuổi trung vị (IQR) là 68 (59; 79), 54,7% là nam và 79,7% có bảo hiểm y tế. Đa số các bệnh nhân có chẩn đoán xuất viện hội chứng vành cấp không ST chênh lên (68,6%) và không nhận được PCI (75,0%). Có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có hoặc không có tăng huyết áp ở các đặc điểm tuổi, giới, bảo hiểm y tế, đái tháo đường và hút thuốc lá.

Tác giả nghiên cứu chia sẻ, điểm mạnh của nghiên cứu là thiết kế đoàn hệ tiến cứu giúp đánh giá được mối quan hệ giữa tình trạng tăng huyết áp mắc kèm với biến cố tử vong trên bệnh nhân hội chứng vành cấp. Nghiên cứu chỉ thực hiện tại hai bệnh viện trong thành phố Cần Thơ, điều này có thể phần nào hạn chế khả năng ứng dụng của nghiên cứu cho các vùng khác. Tuy nhiên, nghiên cứu bao gồm cả bệnh viện có hoặc không có đơn vị can thiệp mạch vành và tiến cứu theo dõi bệnh nhân nên kết quả có thể hy vọng cũng áp dụng được cho các địa điểm khác, đặc biệt là các bệnh viện thuộc tuyến tỉnh hoặc trung ương.

Theo BS.Thắng, nghiên cứu có một số điểm hạn chế cần được thảo luận. Thứ nhất, không có thông tin về điều trị và tuân thủ điều trị và thay đổi lối sống của bệnh nhân sau xuất viện, những điều này có thể ảnh hưởng đến kết cục của bệnh nhân. Thứ hai, mặc dù xử lý số liệu có xem xét đến phân tích đa biến và kiểm soát bằng những yếu tố có khả năng ảnh hưởng nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết cục nghiên cứu mà trong phạm vi nghiên cứu không thể đo lường được. Thứ ba, việc ước tính cỡ mẫu chưa được thực hiện trong nghiên cứu vì chưa có nghiên cứu liên quan trước đó xác định ảnh hưởng này ở Việt Nam. Do đó, kết quả nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn cho các nghiên cứu tiếp theo. Cuối cùng, vẫn còn một tỷ lệ bệnh nhân không thể theo dõi được trong sáu tháng sau xuất viện, điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Tác giả có kết luận nghiên cứu, bệnh nhân hội chứng vành cấp có tăng huyết áp mắc kèm chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ tử vong trong sáu tháng sau xuất viện cũng khá cao. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng xác định được tăng huyết áp không có ảnh hưởng trên biến cố tử vong sau xuất viện ở bệnh nhân hội chứng vành cấp. Cần có nghiên cứu tiếp theo xác định các yếu tố có thể ảnh hưởng đến biến cố bất lợi ở bệnh nhân sau hội chứng vành cấp ở Việt Nam. Trong đó, các yếu tố có thể điều chỉnh được như việc điều trị của bác sĩ và tuân thủ điều trị của bệnh nhân giữ vai trò rất quan trọng.
       Mai Trang
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 109

Số lượt truy cập: 9368432

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang