
Tần suất mắc bệnh ngưng thở tắt nghẽn khi ngủ (OSA: obstructive sleep apnea) ở người có bệnh lý tim mạch rất cao. Các nghiên cứu trước đây cho thấy, OSA có liên quan đến tăng huyết áp (THA) trong khoảng 50% trường hợp và ngược lại trên 50% bệnh nhân THA có nguy cơ bị OSA. Ngoài ra, những nghiên cứu này còn cho thấy có sự tương quan có ý nghĩa giữa chỉ số ngưng thở -giảm thở khi ngủ (AHI: apnea-hypopnea index) đo bằng đa ký giấc ngủ (PSG: polysomnography) và mức độ nặng của THA. Hơn nữa, người bị THA có OSA có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn những người không có OSA.
Việc điều trị THA hiện tại dựa trên các loại thuốc hạ huyết áp khác nhau theo hướng dẫn lâm sàng để cải thiện kết quả điều trị của bệnh nhân. Điều trị bằng thuốc nhằm mục đích giảm huyết áp tâm thu (HATT) <140mmHg và huyết áp tâm trương (HATTr) <90 mmHg. Tuy nhiên ở bệnh nhân THA có OSA, mục tiêu điều trị vẫn còn chưa rõ ràng. Nói chung, đối với đối tượng đặc biệt này (bệnh nhân THA có OSA), điều trị dược lý nên được tối ưu hóa để ngăn ngừa các biến cố tim mạch trong khi ngủ và khi theo dõi dài hạn. Đặc biệt, ở bệnh nhân THA bị OSA nặng (AHI >30 lần/giờ), việc lựa chọn điều trị với thuốc kiểm soát THA đơn thuần thường không hiệu quả và thậm chí có thể kháng trị ở một số bệnh nhân.
Do vậy, việc chẩn đoán và điều trị thích hợp bệnh nhân THA kháng trị bị OSA nặng vẫn còn là một thách thức thực sự trong thực hành lâm sàng nhằm làm giảm các biến chứng và tử vong liên quan đến các biến cố tim mạch.
Tại Hội nghị khoa học THA lần 3 được tổ chức vào tháng 5/2018 tại thành phố Nha Trang. Giáo sư Dương Quý Sỹ Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng đã báo cáo nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ nặng điều trị bằng thông khí áp lực dương liên tục.
.jpg)
Theo Giáo sư Dương Quý Sỹ, đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân THA không kiểm soát được với điều trị và trở nên kháng trị được đưa vào nghiên cứu này. Đo đa ký giấc ngủ (PSG) của đối tượng tham gia nghiên cứu được thực hiện vào ban đêm để đánh giá chỉ số AHI. Đối với những người THA kháng trị có AHI > 30/giờ được chỉ định điều trị bằng CPAP. THA kháng trị được xác định là THA cần 4 hoặc nhiều hơn các loại thuốc kiểm soát huyết áp theo khuyến cáo. THA kháng trị được xác định khi huyết áp tâm thu (HATT) >140mmHg và huyết áp tâm trương (HATTr) > 90 mmHg khi nghỉ ngơi và đang được điều trị.
Về phương pháp đo chỉ số ngưng thở - giảm thở (AHI) bằng đa ký giấc ngủ (PSG). Đo PSG tại phòng đo đa ký giấc ngủ qua đêm của Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Trường CĐYT Lâm Đồng được thực hiện cho mỗi đối tượng tham gia nghiên cứu và sử dụng máy đo PSG Alice 6 (Philippe, Mỹ) theo khuyến cáo của Viện Y học Giấc ngủ Mỹ (American Academic of Sleep Medicine) và cũng đã được mô tả bởi các nghiên cứu trước đó. Thời gian ghi đa ký là từ 10 giờ tối đến 6 giờ sáng ngày hôm sau. Các thông số ghi nhận được là điện não đồ (EEG), dòng khí qua mũi-miệng, chuyển động ngực-bụng, tư thế ngủ, chỉ số ngưng thở-giảm thở (AHI); loại ngưng thở (ngưng thở trung tâm, ngưng thở tắc nghẽn, ngưng thở hỗn hợp), độ bão hòa oxy trung bình (SpO2) và SpO2 thấp nhất. Mức độ nặng của OSA được xác định bởi chỉ số AHI như sau: nhẹ (AHI = 5-15 lần/giờ), trung bình (AHI = 16-30 lần/giờ), và nặng (AHI > 30 lần/giờ).
Giáo sư Sỹ báo cáo, từ tháng 1/2016 đến tháng 1/2017 có tổng số 48 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn lựa và tự nguyện tham gia nghiên cứu. Trong số 48 bệnh nhân được chẩn đoán là THA kháng trị có 39/48 (81,2%) bệnh nhân bị OSA và 32/39 (82,1%) bệnh nhân chấp nhận điều trị bằng thông khí áp lực dương liên tục (CPAP) qua mặt nạ.
Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong nghiên cứu: tuổi trung bình của bệnh nhân THA kháng trị bị OSA nặng được điều trị bằng CPAP (N=32) trong nghiên cứu là 54+ 8 năm (45 - 64 năm). Tỷ lệ nam-nữ là 1,6. Chỉ số khối (BMI) trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 27,5 + 4,6kg/m2 (23,2 - 32,5 kg/m2). Vòng cổ và vòng bụng lần lượt là 40 + 4 cm (35 – 44 cm) 86 + 9 cm (76 – 98 cm). HATT và HATTr tương ứng là 160 + 15 (150 – 180) mmHg và 105 + 10 (95 – 115) mmHg. Điểm số Epworth của bệnh nhân bị OSA là 16 + 4 (12-22).
Kết luận nghiên cứu, Giáo sư Sỹ cho rằng OSA rất thường gặp ở những bệnh nhân THA kháng trị. Việc tầm soát OSA nặng ở bệnh nhân có THA kháng trị nên được thực hiện một cách thường quy trong thực hành lâm sàng, đặc biệt ở những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng của OSA. Điều trị bằng CPAP ở bệnh nhân có THA kháng trị bị OSA nặng có thể làm giảm huyết áp một cách có ý nghĩa.
Hữu Cao