Với tuổi thọ của người dân ngày càng cao, bệnh loãng xương ngày càng phổ biến và tỷ lệ gãy xương do loãng xương ngày càng gia tăng. Chẩn đoán và chỉ định điều trị loãng xương hiện nay vẫn chủ yếu căn cứ vào kết quả đo mật độ xương. Việc đánh giá mật độ xương có vai trò quan trọng giúp dự đoán nguy cơ gãy xương và định hướng các can thiệp điều trị để cải thiện mật độ xương và ngăn ngừa gãy xương.

Trong số nhiều phương pháp đo mật độ xương, phương pháp hấp thu tia X năng lượng kép (Dual energy X-ray Absorptiometry, DXA) được coi là phương pháp nhạy, chính xác nhất và được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo là tiêu chuẩn vàng trong đánh giá mật độ xương và chẩn đoán loãng xương. Vùng hông (cổ xương đùi) và cột sống thường là vị trí quan trọng trong đo mật độ xương vì kết quả đo ở những vị trí này tiên đoán tốt nhất nguy cơ gãy xương ở cổ xương đùi và cột sống, là những vị trí thường gặp của gãy xương do loãng xương. Chỉ số T(T-score), một chỉ số thường sử dụng trong đánh giá mật độ xương, được tính toán dựa trên so sánh giá trị mật độ xương trung bình của người được đo với giá trị mật độ xương trung bình tối đa ở những người trẻ khỏe mạnh cùng giới tính và chủng tộc. Dựa trên trị số T-score, kết quả đo mật độ xương được phân loại là bình thường, thiếu xương hay loãng xương.
Các nghiên cứu về mật độ xương trước đây cho thấy T-score là công cụ hữu ích đánh giá nguy cơ gãy xương, cũng như so sánh tương quan của mật độ xương cột sống và xương đùi với nguy cơ gãy xương ở người lớn tuổi. Mặc dù mật độ xương ở các vị trí đo khác nhau thường có tương quan với nhau, tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy mức độ thống nhất giữa các vị trí thường thấp khi phân loại mật độ xương có ở mức loãng xương hay không. Điều này dẫn đến khó khăn cho thầy thuốc lâm sàng trong việc nhận định kết quả và quyết định điều trị loãng xương. Đồng thời do sự không thống nhất giữa các vị trí đo, việc chẩn đoán loãng xương có thể bị bỏ sót nếu như chỉ đánh giá ở một vị trí, cũng như làm cho việc kết quả dự đoán nguy cơ gãy xương có thể sai lệch. Những nghiên cứu này cho thấy sự không thống nhất trong các kết quả đo mật độ xương xảy ra phổ biến.
Từ tháng 3/2017 đến tháng 7/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Đình Khoa - Bệnh viện Chợ Rẫy,TP Hồ Chí Minh cùng cộng sự thực hiện nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận lợi báo cáo đề tài “Mối tương quan và mức độ thống nhất giữa kết quả đo mật độ xương ở cột sống thắt lưng và vùng cổ xương đùi bằng phương pháp DXA”.

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân nam hoặc nữ từ 18 tuổi trở lên, đến khám và điều trị tại Khoa Nội Cơ Xương Khớp hoặc phòng khám Nội Cơ Xương Khớp, Bệnh viện chợ Rẫy, trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2017, được chỉ định và có kết quả đo mật độ xương ở cả hai vị trí cột sống thắt lưng và cổ xương đùi và đồng ý tham gia nghiên cứu. Việc chỉ định đo mật độ xương hoàn toàn do bác sĩ điều trị quyết định (không phụ thuộc vào nghiên cứu) nhằm mục đích tầm soát hoặc chẩn đoán loãng xương với sự đồng ý của người bệnh.
Loại trừ những bệnh nhân chỉ đo được mật độ xương ở một vị trí, bệnh nhân có gãy cổ xương đùi, loãng xương thứ phát (do thuốc, do bệnh lý), bệnh nhân có phẫu thuật can thiệp cột sống và cổ xương đùi trước đây.
Tác giả cho biết, mật độ xương được đo bằng phương pháp DXA trên máy Hologic QDR 4500W, tại Phòng đo mật độ xương, Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Chợ Rẫy. Vị trí đo gồm cột sống thắt lưng từ L1 đến L4 và vùng đầu trên xương đùi.
Ghi nhận các kết quả mật độ xương (g/cm2), giá trị T-score ở cột sống thắt lưng và xương đùi, kết quả chi tiết các vùng khác nhau ở mỗi vị trí đo. Cột sống: Giá trị của mỗi đốt sống L1-L4 và toàn bộ (Total); Cổ xương đùi: Vùng cổ (neck), vùng tam giác Ward (Ward), mấu chuyển (Troch), liên mấu chuyển (Inter) và toàn bộ cổ xương đùi (Total).
Chẩn đoán loãng xương ở mỗi vị trí đo theo tiêu chuẩn do WHO đề nghị: Bình thường (T-score > -1); thiếu xương (osteopenia, T-score > -2,5 và <-1); loãng xương (osteoporosis, T-score < -2,5).
Chẩn đoán bệnh nhân có loãng xương khi có T-score < -2,5 ở ít nhất một 3 vị trí là cột sống thắt lưng (toàn bộ), cổ xương đùi (neck), hoặc toàn bộ đầu trên xương đùi (total hip).
Đánh giá mức độ thống nhất giữa kết quả phân loại mật độ xương giữa vùng cột sống thắt lưng và cổ xương đùi, dựa vào việc so sánh kết quả giữa các vị trí đo, bệnh nhân được xếp vào 3 nhóm: Thống nhất; Không thống nhất ít và Không thống nhất nhiều.
BS Nguyễn Đình Khoa báo cáo, kết quả khảo sát đo mật độ xương của 311 bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy hầu hết là bệnh nhân nữ và lớn tuổi, đa số trên 60. Điều này cũng phù hợp với thực tế, bởi vì ngoại trừ loãng xương thứ phát, còn loãng xương nguyên phát gặp ở người lớn tuổi và phụ nữ sau mãn kinh là chủ yếu. Đáng lưu ý là kết quả phân loại mật độ xương chung cho thấy hầu hết bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu có loãng xương hoặc thiếu xương và chỉ có rất ít người được đo mật độ xương có kết quả bình thường. Điều này cho thấy việc chỉ định đo mật độ xương ở bệnh nhân đến khám tại chuyên khoa cơ xương khớp tại Bệnh viện Chợ Rẫy nhìn chung là tương đối hợp lý, đã tập trung vào những đối tượng trên lâm sàng thầy thuốc nghi ngờ có loãng xương hoặc có các yếu tố nguy cơ của loãng xương, cho nên tỷ lệ loãng xương trong nhóm nghiên cứu rất cao. Trên thực tế, và qua kết quả nghiên cứu này cho thấy việc lựa chọn đối tượng được tầm soát loãng xương nhìn chung đã tuân thủ theo khuyến cáo của thế giới.
Khi so sánh kết quả phân loại mật độ xương (tỷ lệ thiếu xương, loãng xương) ở các vị trí đo khác nhau là cột sống, vùng cổ xương đùi và toàn bộ vùng hông thì có sự khác biệt nhất định. Kết quả phân loại ở vùng cột sống thắt lưng gần với vùng cổ xương đùi hơn là kết quả ở toàn bộ vùng hông. Như vậy, nếu chỉ đo và lấy kết quả toàn bộ vùng hông, có lẽ trên lâm sàng sẽ bỏ sót bệnh nhân loãng xương.
Khi phân tích tương quan kết quả đo mật độ xương giữa các vị trí, kết quả cho thấy mật độ xương đo ở các vùng cột sống và cổ xương đùi, tuy có khác nhau, với mật độ ở cột sống luôn cao hơn vùng cổ xương đùi, song nhìn chung có tương quan tuyến tính thuận, khá chặt chẽ với nhau. Thực tế sự tương quan mật độ xương giữa các vị trí đo đã được nhiều nghiên cứu khẳng định.
Mặc dù có sự tương quan như thế, song khi xét đến phân loại mật độ xương theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (bình thường, thiếu xương, loãng xương) dựa trên giá trị T-score, kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 50-56% bệnh nhân có sự thống nhất trong kết quả phân loại này. Nếu đánh giá mức độ thống nhất giữa kết quả phân loại ở cột sống thắt lưng và vùng cổ (femoral neck), có 36% bệnh nhân không thống nhất mức độ ít (tức cách biệt một mức trong phân loại của WHO) và 3,5% bệnh nhân không thống nhất mức độ nhiều (tức cách biệt 2 mức trong phân loại của WHO), trong khi đó khi so sánh giữa vùng cột sống thắt lưng với kết quả lấy là toàn bộ vùng hông (total hip), thì mức độ không thống nhất còn cao hơn, với tỷ lệ 41,5% không thống nhất ít và 5,8% không thống nhất nhiều. Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy sự không thống nhất trong kết quả T-score giữa cột sống và vùng cổ xương đùi là tình trạng thường gặp.
Kết quả nghiên cứu của BS Khoa cũng khá tương đồng với một số nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài. Chẳng hạn, nghiên cứu của Moayyeri ở Iran (2005) trên 4188 người (trong đó 3848 phụ nữ), tuổi trung bình 53.4 + 11.8, cho thấy tỷ lệ không thống nhất nhiều giữa mật độ xương cột sống và xương đùi ở giá trị T-score chiếm 2,7%, không thống nhất ít chiếm 38,9% và thống nhất chiếm 58,3%.
BS Khoa cho biết, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đo mật độ xương và tính thống nhất trong kết quả đo ở các vị trí. Trong nghiên cứu, tuy chưa có điều kiện tìm hiểu đầy đủ các yếu tố liên quan, song những phân tích bước đầu về mức độ thống nhất trong kết quả đo mật độ xương trong mối liên quan với độ tuổi và BMI, đã cho thấy ở các lứa tuổi khác nhau, có thể ảnh hưởng khác nhau đến mức độ thống nhất, có lẽ do những thay đổi sinh-bệnh lý liên quan đến tuổi làm ảnh hưởng đến kết quả đo mật độ xương ở các vùng khác nhau. Đánh giá về ảnh hưởng của BMI, tuy chưa thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê, song kết quả cũng cho thấy những người có BMI quá cao, đặc biệt ở mức béo phì cũng có thể có xu hướng làm gia tăng sự không thống nhất khi đo mật độ xương ở các vị trí khác nhau. Thực tế, một số tác giả khác cũng đã ghi nhận một số yếu tố ảnh hưởng đến tính thống nhất trong đo mật độ xương như tuổi cao, tình trạng mãn kinh, béo phì hay tiền căn có gãy xương. Về các lý do cũng như những yếu tố nguy cơ được cho là ảnh hưởng đến mức độ thống nhất trong kết quả phân loại mật độ xương, nhìn chung được các tác giả chia thành 5 nhóm nguyên nhân, bao gồm do sinh lý học, do bệnh lý, do giải phẫu, do nhiễu tín hiệu và vấn đề phương tiện và kỹ thuật. Chẳng hạn, tình trạng calci hóa động mạch và những thay đổi do thoái hóa cột sống, gãy xẹp đốt sống làm cho kết quả đo mật độ xương ở cột sống thắt lưng được cho là có thể tăng một cách giả tạo ở người lớn tuổi.
Như vậy, có thể khẳng định sự không thống nhất là tình trạng phổ biến trong thực hành đo mật độ xương, do vậy thầy thuốc cần có sự nhận định đầy đủ và thấu đáo hơn trong chẩn đoán và chỉ định điều trị loãng xương khi phân tích kết quả mật độ xương. Sự không thống nhất giữa các vị trí đo cũng chính là một trong các lý do trên lâm sàng khuyến cáo nên đo ít nhất hai vị trí là cột sống và cổ xương đùi và lấy kết quả đo thấp nhất để chẩn đoán và ra quyết định điều trị. Sự không thống nhất này cũng cho thấy trong đánh giá, chẩn đoán loãng xương cũng như quyết định điều trị không chỉ nên dựa thuần túy vào kết quả đo mật độ xương mà còn cần phải đánh giá những vấn đề khác, đặc biệt là các yếu tố nguy cơ loãng xương cũng như những đặc điểm sinh lý, bệnh lý cụ thể trên mỗi người bệnh.
BS Nguyễn Đình Khoa có kết luận: (1) Tỷ lệ loãng xương trong số bệnh nhân được chỉ định đo mật độ xương là 63,3% và tỷ lệ thiếu xương là 30,5%; (2) Có sự tương quan khá chặt chẽ giữa mật độ xương đo ở cột sống thắt lưng và vùng cổ xương đùi. Tuy nhiên, có sự không thống nhất cao giữa kết quả phân loại mật độ xương (T-score) đo ở cột sống và cổ xương đùi. Giữa cột sống thắt lưng và vùng cổ xương đùi (neck), có 36% không thống nhất ít và 3,5% không thống nhất nhiều; giữa cột sống thắt lưng và vùng hông toàn bộ, tỷ lệ không thống nhất ít là 41,5% và không thống nhất nhiều là 5,8%; (3) Mức độ thống nhất trong kết quả đo mật độ xương ở các vị trí khác nhau có liên quan đến độ tuổi, không thấy liên quan có ý nghĩa với chỉ số BMI.
Anh Huy