Theo tác giả Phạm Cẩm Phương – Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai, ung thư đại trực tràng là một trong những loại ung thư có tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cao nhất. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 10,1/100.000 dân, đứng thứ sáu trong các bệnh ung thư (theo GLOBOCAN 2012). Các phương pháp điều trị ung thư đại trực tràng bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và điều trị đích, trong đó có các kháng thể đơn dòng kháng thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (epidermal growth factor receptor – EGFR). Các nghiên cứu đã chứng minh kháng thể đơn dòng kháng EGFR (cetuximab, panitumumab …) có hiệu quả hơn ở những bệnh nhân ung thư đại trực tràng không có đột biến KRAS so với những bệnh nhân mang đột biến KRAS. Vì vậy, xét nghiệm đột biến gen KRAS có vai trò quan trọng trong chỉ định các kháng thể đơn dòng như cetuximab, panitumumab … cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng.

Từ tháng 11/2014, Đơn vị Gen – Tế bào gốc, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai đã ứng dụng thường quy xét nghiệm đột biến gen KRAS cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng.
BS Phương cho biết, có 212 bệnh nhân được chọn tham gia nghiên cứu đánh giá tỷ lệ đột biến gen KRAS. Tất cả 212 bệnh nhân ung thư đại trực tràng được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 7 năm 2017. Các mẫu bệnh phẩm (mẫu mô sau phẫu thuật hoặc sinh thiết) được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học tại Trung tâm Giải phẫu bệnh và Tế bào học, sau đó được xét nghiệm đột biến gen KRAS tại Đơn vị Gen – Tế bào gốc, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai.
Phương pháp nghiên cứu là nghiên cứu mô tả tiến cứu; Thu thập các thông tin về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, giai đoạn bệnh của bệnh nhân theo một mẫu thu thập thông tin thống nhất. Xét nghiệm đột biến gen KRAS bằng phương pháp PCR đặc hiệu alen kết hợp lai đầu dò.
Tác giả nghiên cứu phân tích, ở các tế bào ung thư đại trực tràng, các con đường tín hiệu phụ thuộc EGFR thường được kích hoạt. Theo con đường này, yếu tố tăng trưởng biểu mô liên kết với EGFR, từ đó hoạt hóa protein RAS và truyền tín hiệu qua các con đường khác nhau: qua RAF, MAPK để kiểm soát sự tăng sinh và biệt hóa; qua PI3K, AKT, mTOR giúp tế bào duy trì khả năng sống sót, không đi vào chết theo chương trình … Vì vậy một trong những hướng điều trị ung thư đại trực tràng hiệu quả là ngăn chặn sự kết hợp giữa yếu tố tăng trưởng và thụ thể của nó, đó chính là cơ chế hoạt động của các kháng thể đơn dòng như cetuximab, panitumumab … Tuy nhiên, nếu gen KRAS bị đột biến thì protein KRAS có khả năng tự hoạt hóa, kích thích con đường tín hiệu nội bào mà không phụ thuộc tín hiệu từ EGFR, do đó các thuốc kháng EGFR nếu được dùng sẽ không có hiệu quả.
Trong nghiên cứu 212 bệnh nhân ung thư đại trực tràng, tỷ lệ đột biến gen KRAS là 40,6%, tương tự với các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam (tỷ lệ đột biến trong các nghiên cứu nhìn chung khoảng 30-45%, cơ sở dữ liệu COSMIC ghi nhận tỷ lệ 37%). Tỷ lệ các loại đột biến cũng có sự chênh lệch khá lớn. Theo kết quả xét nghiệm tại Bệnh viện Bạch Mai, đột biến tại codon 12 chiếm ưu thế (73,9%), tiếp theo là tại codon 13 (21,6%), đột biến tại codon 61 và 146 khá hiếm gặp (mỗi loại chỉ chiếm 2,3% mẫu). Kết quả này có sự khác biệt với nghiên cứu của Bệnh viện K khi đột biến tại codon 13 chiếm ưu thế (66,7%), nhưng tương tự với hầu hết các nghiên cứu khác trên thế giới (tỷ lệ đột biến tại codon 12 khoảng 65-80%).

Về mối liên quan giữa tỷ lệ đột biến gen KRAS và các chỉ số sinh học, đột biến thường gặp ở nữ giới hơn (50,5%, cao hơn 1,6 lần tỷ lệ ở nam giới với p < 0,05). Tỷ lệ này có sự khác biệt về nhóm tuổi (độ tuổi trên 50 thường gặp hơn độ tuổi từ 50 trở xuống), vị trí u nguyên phát (thường gặp ở bệnh nhân ung thư trực tràng hơn ung thư đại tràng) và phương pháp thu nhận mẫu (bệnh phẩm phẫu thuật có tỷ lệ đột biến cao hơn bệnh phẩm sinh thiết), tuy nhiên những sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Những mẫu thu nhận từ các vị trí di căn nói chung (hạch ổ bụng, phổi, gan …) có tỷ lệ đột biến gen tới 76,9%, cao hơn mẫu u nguyên phát (dưới 40%, với p < 0,05). Kết quả đó cho thấy ở những nơi di căn, tế bào ung thư có khả năng tích lũy đột biến gen KRAS (và một số gen khác liên quan đến con đường truyền tin tế bào) mạnh hơn, từ đó có độ ác tính cao hơn so với tại u nguyên phát. Do vậy, xét nghiệm này nên được ưu tiên thực hiện đối với các mẫu di căn để xác định được chính xác tình trạng đột biến gen của bệnh nhân, từ đó bác sĩ lâm sàng có thể lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp.
Anh Huy