Một trong những chỉ định của phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI Intra-Uterin Insermination) là vô sinh do tinh trùng yếu, ít mức độ vừa, nhẹ. Cẩm nang tinh dịch đồ của Tổ chức y tế thế giới xuất bản lần thứ 5 năm 2010 đã đưa ra các ngưỡng chỉ số tinh dịch đồ bình thường.
.jpg)
Tỷ lệ thành công của phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung rất khác nhau và phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có các chỉ số tinh dịch đồ. Các bác sĩ lâm sàng còn phân vân lựa chọn phương pháp điều trị các trường hợp vô sinh do bất thường tinh dịch đồ. Trường hợp nào thì nên lọc rửa để bơm IUI, trường hợp nào thì nên làm IVF/ICSI (in vitro fertillisation/Intra-cytoplasmic sperm injectino: thụ tinh trong ống nghiệm/tiêm tinh trùng vào bào tương noãn), và nếu lọc rửa tinh trùng để bơm IUI thì tỉ lệ thành công là bao nhiêu với các ngưỡng chỉ số tinh dịch đồ.
Từ tháng 10/2015 đến tháng 3/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Hồ Sỹ Hùng cùng cộng sự Bộ môn sản – Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu tiến cứu mô tả, báo cáo đề tài “Xác định tỉ lệ có thai và nội dung một số chỉ số tinh dịch đồ với tỉ lệ có thai của các trường hợp bơm tinh trùng vào buồng tử cung”. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu, tử cung bình thường và 2 vòi tử cung thông, có ít nhất 1 nang noãn trưởng thành với niêm mạc tử cung > 8mm. Tinh dịch đồ bình thường hoặc bất thường mức độ nhẹ và vừa. Tiêu chuẩn loại trừ: tuổi vợ trên 35, đã phẩu thuật buồng trứng: bóc nang buồng trứng, cắt buồng trứng, lạc nội mạc tử cung, vô sinh do tử cung (u xơ tử cung, polyp buồng tử cung).
Các cặp vợ chồng được chẩn đoán vô sinh do chồng, do buồng trứng đa nang hệ vô sinh không rõ nguyên nhân.
Bác sĩ Hồ Sỹ Hùng phân tích báo cáo, độ tuổi trung bình của 308 đối tượng nghiên cứu đối với người chồng là 31,72 + 4,8 năm, của người vợ là 28,18 + 3,9 năm. Thời gian vô sinh trung bình là 2,99 + 2,1 năm, tương tự với nghiên cứu của Phan Thu Hằng (2010) thời gian vô sinh trung bình là 3,2 + 2,5 năm.

Nhằm mục đích phân tích mối liên quan giữa các giá trị tinh dịch đồ với tỉ lệ có thai, từ đó tìm ra ngưỡng chỉ số tinh dịch đồ cho kết quả có thai mong muốn trong nghiên cứu này tác giả nghiên cứu chủ yếu chọn các cặp vợ chồng vô sinh do chồng còn vợ hoàn toàn bình thường. Nguyên nhân vô sinh do chồng chiếm 57,1%, không rõ nguyên nhân 32,9%, buồng trứng đa nang là 8,1%, 1,9% do cả hai vợ chồng. Einat Shalom-Paz (2014) nghiên cứu trên 326 cặp vợ chồng với 601 chu kỳ IUI, vô sinh không rõ nguyên nhân chiếm tỉ lệ 73,1%, buồng trứng đa nang chiếm 22,3%, 4,6% là do chồng bất thường tinh dịch đồ mức độ nhẹ.
Phân tích tỉ lệ có thai, qua nghiên cứu 310 cặp vợ chồng vô sinh điều trị 319 chu kỳ IUI, sau chu kỳ thứ nhất có 92 trường hợp có thai, đạt tỷ lệ 29,7%. Theo dõi tiếp có 9 cặp vợ chồng tiếp tục điều trị chu kỳ thứ 2 thì có 2 trường hợp có thai, đạt tỷ lệ 22,2% và tổng cộng có 94/310 cặp vợ chồng có thai đạt tỷ lệ thai cộng dồn là 30,3%. Trong số các cặp vợ chồng có thai, tỷ lệ thai diễn tiến là 72,3%. Có 8 trường hợp đẻ con sống cho đến thời điểm kết thúc nghiên cứu, chiếm tỷ lệ là 8,5%. Tỷ lệ thai sảy, thai lưu là 9,6%, tỷ lệ chửa ngoài tử cung là 9,6%, tỷ lệ đa thai là 3,2%.
Tỷ lệ đa thai trong nghiên cứu là 3,2%, tương đương tỷ lệ đa thai tự nhiên (từ 1 đến 3%). Tỷ lệ thai ngoài tử cung là 9,6%, tỷ lệ thai sảy, thai lưu là 9,6%. So với nghiên cứu của Mehmet Erdem (2015) thì tỷ lệ đa thai, sảy thai trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn Mehmet Erdem nghiên cứu 412 cặp vợ chồng với 530 chu kỳ IUI, có 103 trường hợp có thai, tỷ lệ đa thai là 8%, tỷ lệ sảy thai là 14,7%.
Bác sĩ Hùng có nhận xét, khi mật độ tinh trùng dưới 15.106/ml thì không có trường hợp nào có thai. Mật độ tinh trùng từ 15.106/ml đến dưới 40 triệu/ml thì tỷ lệ có thai là 20,9% và mật độ tinh trùng > 40.106/ml thì tỷ lệ có thai là 32,7%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,037. Như vậy, chỉ có các trường hợp mật độ tinh trùng > 15.106/ml mới có thể thành công khi bơm IUI.
Nghiên cứu của Hồ Sỹ Hùng, mật độ tinh trùng từ 10.106/ml - 20.106/ml thì tỷ lệ có thai là 11,2%, nếu mật độ > 20.106/ml thì tỷ lệ có thai là 12,6%. Ngoài mật độ tinh trùng thì nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ có thai là 8,7% nếu tổng số tinh trùng < 39.106, tỷ lệ có thai là 21,5% nếu tổng số tinh trùng từ 39 đến dưới 100 triệu và tỷ lệ có thai tăng lên 36,5% nếu tổng số tinh trùng trên 100.106/ml.
Đối với mối liên quan tỉ lệ có thai với tỉ lệ di động của tinh trùng, bác sĩ Hùng cho biết, tỉ lệ tinh trùng di động tiến tới < 17% thì tỷ lệ có thai là 16%, tỷ lệ có thai là 33,3% nếu tỉ lệ tinh trùng di động tiến tới từ 7 đến dưới 50%. Theo Hồ Sỹ Hùng (2011), khi tỉ lệ tinh trùng di động tiến tới < 10% thì tỷ lệ có thai là 10,5%, tinh trùng di động tiến tới từ 10 đến 20% tỷ lệ có thai là 13,5% và khi tinh trùng di động tiến tới trên 20% tỷ lệ có thai là 14,5%.
Về mối liên quan tỷ lệ có thai với hình thái tinh trùng, hình thái tinh trùng bình thường 0%, 1-<4%, 4-< 10% và > 10% lần lượt là 0%, 27,9%, 31,1% và 47% với p > 0,05. Nếu tinh trùng bất thường hoàn toàn thì không trường hợp nào có thai, còn nếu tỷ lệ hình thái tinh trùng bình thường > 1% đã có thể có thai. Như vậy nếu có tinh trùng bình thường thì vẫn có thể bơm IUI.
Mặc dù vậy một số nghiên cứu khác lại cho thấy hình thái tinh trùng không ảnh hưởng tỷ lệ có thai. Mona Zahra (2014) nghiên cứu 100 cặp vợ chồng làm IUI thấy hình thái tinh trùng không ảnh hưởng tỷ lệ có thai. Tỷ lệ có thai là 28,6%; 31,8%; 23,3% và 33,3% nếu hình thái tinh trùng bình thường tương ứng là < 4%; 5-14%; 15-30% và > 30%.
Liên quan tỷ lệ có thai với tống số tinh trùng hình thái bình thường di động tiến tới: kết quả nghiên cứu này cho thấy khi tổng số tinh trùng hình thái bình thường di động tiến tới < 0,1. 106 thì tỷ lệ có thai là 10,7%. Tỷ lệ có thai tăng lên 31,3% khi tổng số tinh trùng hình thái bình thường di động tiến tới > 0,1. 106 , sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,023. Như vậy ngưỡng 0,1. 106 tinh trùng hình thái bình thường di động tiến tới được xem như giá trị tiên lượng tỷ lệ có thai mong muốn khi điều trị IUI. Ngưỡng này có giá trị dự báo cho các cặp vợ chồng vô sinh không rõ nguyên nhân, vô sinh do chồng hay buồng trứng đa nang điều trị IUI.
Bác sĩ Hồ Sỹ Hùng có kết luận cho nghiên cứu, tỷ lệ có thai trong nghiên cứu là 30,3%. Tỷ lệ có thai tăng khi mật độ tinh trùng hình thái tinh trùng bình thường và tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới tăng. Không trường hợp nào có thai khi mật độ tinh trùng < 15. 106/ml, tỷ lệ có thai là 32,7% khi mật độ tinh trùng > 40. 106/ml, khi tỷ lệ tinh trùng hình thái bình thường > 1% tỷ lệ có thai là 30,5%.
Hồng Sơn