[Đăng ngày: 22/06/2018]
Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là tập hợp những yếu tố nguy cơ tương tác với nhau bao gồm béo phì (đặc biệt là béo bụng), tăng đường máu, tăng huyết áp, tăng triglyceride và giảm HDL-cholesterol. Các định nghĩa của HCCH có khác nhau như WHO 1999, NCEP ATP III, AACE, IDF 2006; trong đó định nghĩa HCCH của Hiệp hội Đái tháo đường thế giới (International Diabetes Federation-IDF) năm 2006 là được ưu chuộng hơn. 

Những bằng chứng hiện nay đã chứng minh HCCH có liên quan đến bệnh đái tháo đường, bệnh tim mạch, bệnh thận và cũng là yếu tố nguy cơ của tử vong do bệnh tim mạch cũng như tử vong do mọi nguyên nhân. Tương tự, những nghiên cứu trên dân số chung cho thấy HCCH rất phổ biến và 13,7% dân số tuổi trung niên, 50% ở người già. Tần suất của HCCH ngày càng gia tăng cùng sự thay đổi kinh tế xã hội và lối sống ít vận động… AUM là sản phẩm cuối cùng của chuyển hóa purin ở người và sự tích tụ quá mức của AUM có thể đưa đến các bệnh lý khác nhau.

Mặc dù vai trò của tăng AUM đối với bệnh tim mạch và bệnh thận vẫn còn nhiều tranh cãi, nhưng những phát hiện từ những nghiên cứu gần đây tại nhiều nơi trên thế giới đã cho thấy liên quan giữa tăng AUM và sự hiện diện của HCCH. Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan giữa nồng độ AUM và các yếu tố nguy cơ tim mạch các thành tố của HCCH, tuy nhiên vấn đề này vẫn còn nhiều bàn cãi cũng như không có nhiều nghiên cứu mối liên quan này có khác nhau ở nam và nữ.

Từ tháng 6/2017 đến tháng 9/2017, tác giả Huỳnh Kim Phượng cùng cộng sự Bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện nghiên cứu mô tả, cắt ngang báo cáo đề tài “ Mối liên quan giữa nồng độ axituric máu và hội chứng chuyển hóa ở nam và nữ”. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là tất cả người đến kiểm tra sức khỏe tổng quát tại Khoa Chăm sóc Sức khỏe Theo yêu cầu – Bệnh viện Chợ Rẫy. Tiêu chuẩn loại trừ: đang sử dụng thuốc điều trị hạ acid uric máu (allopurino febuxostat…). Đang sử dụng các thuốc lợi tiểu, thuốc điều trị bệnh ung thư.

Nhóm nghiên cứu tiến hành ghi nhận đối tượng nghiên cứu về tiền căn bệnh sử, thuốc đang sử dụng, lượng bia rượu tiêu thụ, vận động thể dục thể thao, thói quen hút thuốc lá …
Lấy sinh liệu: huyết áp tâm thu/tâm trương bằng máy đo huyết áp tự động hiệu OMRON-Nhật Bản ở tư thế ngồi sau khi ngồi nghỉ 15 phút trước khi lấy máu.
Chỉ số khối cơ thể BMI (body mass index) được tính bằng cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao m2.
Đo vòng bụng ngang với rốn hoặc ngang giữa bờ dưới xương sườn và bờ trên xương chậu, ở tư thế đứng sau khi thở ra bình thường.
Thực hiện các xét nghiệm máu trong bộ kiểm tra sức khỏe tổng quát sau khi nhịn đói 10-12 tiếng, bao gồm: đường máu đói, bộ libid máu (triglyceride, HDL-cho, LDL-cho), HbA1c, acid uric, Bun, creatinin, công thức máu, AST (aspartate amino transferase), ALT (alanine aminotransferase), GGT (gamma-glutamyl transpeptidase). Xét nghiệm máu và tất cả các biến số đều ghi nhận trong cùng ngày.
Các thành tố của HCCH dựa trên các yếu tố: HATT, HATTr, vòng bụng, BMI, triglyceride máu, HDL-cholesterol, đường máu đói.
Phương pháp thu thập và phân tích số liệu: tác giả sử dụng chẩn đoán tăng huyết áp (THA) theo định nghĩa của JNC VII hoặc đã được chẩn đoán THA. Đái tháo đường (ĐTĐ) theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ADA 2013 hoặc đã được chẩn đoán ĐTĐ. Acid Uric máu tăng khi > 7mg/dL (nam giới) và >6mg/dL (nữ giới). AST/ALT tăng khi > 40mg/dL, GGT tăng khi > 50mg/dL.

Tác giả nghiên cứu chẩn đoán HCCH theo tiêu chuẩn của IDF 2006 khi béo bụng hoặc béo phì kèm theo từ 2 trở lên các thành tố còn lại của HCCH. Béo bụng: vòng bụng > 90cm (nam) và > 80cm (nữ); Béo phì: BMI >25; TG > 150mg% (1,7mmol/L); HDL-cho <40mg/dl (nam) và <50mg/dl (nữ); Huyết áp cao khi HATT > 130mg% hoặc HATTr > 85mg%; Tăng đường máu đói khi đường máu đói sau 10 tiếng >100mg/dl (5,6mmol/l).

TS Huỳnh Kim Phượng phân tích báo cáo, khảo sát 500 đối tượng nghiên cứu kết quả cho thấy độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 43; nam chiếm đa số hơn nữ (51,6% so với 48,4%), HCCH chiếm 28,8% (144/500 TH), trong đó tỷ lệ nam chiếm đa số hơn nữ (29,5% so với 28,1%).
Kết quả nghiên cứu ghi nhận chiều cao trung bình giữa nam và nữ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) (1,67m ở nam so với 1,56m ở nữ). Kết quả này phù hợp với kết quả khảo sát nhân trắc học thì chiều cao ở nam hơn nữ. Tương tự, cân nặng trung bình của nam 68,26 kg hơn so với nữ 53,59kg và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, kết quả này một phần do yếu tố khác biệt nhân trắc học giữa nam và nữ, phần khác do thường phụ nữ nước ta có chế đọ ăn kiêng và thể dục tốt hơn nam giới. Tương tự, do sự khác biệt chiều cao, cân nặng có ý nghĩa giữa nam và nữ.

Huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương trung bình cũng khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ (p < 0,001), huyết áp tâm thu trung bình của nam cao hơn nữ (126,03mmHg so với 117,69mmHg) và huyết áp tâm trương của nam cũng cao hơn của nữ (80,72mmHg so với 74,07mmHg). Sự khác biệt này được giải thích có thể do những yếu tố liên quan đến nam giới như: hút thuốc lá, uống rượu bia.
Sự khác biệt chỉ số vòng bụng của nam cao hơn nữ có ý nghĩa thống kê 86,02cm so với 79,09cm (p < 0,001). Sự khác biệt này có thể giải thích có thể do cân nặng của nam lớn hơn so với cân nặng của nữ, và thói quen uống bia rượu của nam giới có liên quan đến vòng bụng.

Ngoài ra, trong nghiên cứu này ghi nhận các chỉ số của lipid máu: cholesterol toàn phần, HDL- cholesterol, Triglyceride, Apo lipoprotein A1, Apo lipoprotein B có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ; tất cả các chỉ số trung bình này ở nam đều cao hơn nữ (p ≤ 0,05). Sự khác biệt này có thể giải thích do chế độ ăn ở nữ thường kiêng khem chất béo hơn so với nam giới. Đặc biệt, trung bình AUM ở nam cao hơn đáng kể so với nữ giới (7,15mg% so với 4,98mg/dl) (p < 0,0001), sự khác biệt này liên quan đến nhiều thói quen bia rượu cũng như chế độ ăn khi nhậu của nam giới. Hơn thế nữa, HDL- cholesterol trung bình ở nữ cao hơn ở nam có ý nghĩa thống kê (49,85mg/dl so với 45,36mg/dl) cho thấy yếu tố nguy cơ này ở nữ thấp hơn nam giới.
Theo Wen-ko Chiou và cộng sự cũng ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa của béo bụng, tăng huyết áp, tăng đường máu đói, tăng triglyceride, giảm HDL- cholesterol giữa nam và nữ. Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận tương quan giữa tăng nồng độ AUM với tăng triglyceride, tăng huyết áp, béo bụng và số lượng thành tố của HCCH, vì thế việc điều trị tăng AUM sẽ phòng ngừa được HCCH. Phù hợp với nhiều nghiên cứu nước ngoài, kết quả nghiên cứu ghi nhận không có sự khác biệt LDL- cholesterol giữa nam và nữ.
Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tăng AUM 33,6%, trong đó tỷ lệ tăng AUM ở nam cao hơn ở nữ (50% so với 16,1%).
Nghiên cứu ghi nhận ở cả hai giới nam và nữ đều ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa AUM và cân nặng, tuy nhiên hệ số tương quan r ở nam cao hơn so với ở nữ (r=0,306 so với r=0,160). Tương tự, đối với thành tố béo phì của HCCH dựa trên BMI, kết quả nghiên cứu ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa  AUM và BMI, tuy nhiên mối tương quan giữa AUM và BMI ở nam giới thì chặt hơn so với nữ giới (r=0,274 so với r-0,198). Ghi nhận mối tương quan rất yếu giữa nồng độ AUM và HATT ở cả hai giới nam và nữ. Ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ AUM, HATT, HATTr ở nam cao hơn ở nữ. Tương tự, tương quan giữa AUM và BMI, vòng bụng ở nam cũng cao hơn ở nữ. Ngược lại, tương quan giữa nồng độ AUM với triglyceride ở nữ cao hơn ở nam (r=0,250 so với r=0,192). Tuy nhiên, ghi nhận tương quan nghịch giữa nồng AUM với HDL- cholesterol (r=-0,185) chỉ ở nữ giới, ghi nhận tương quan giữa nồng độ AUM với Apo lipoprotein B chỉ ở nam giới.
 Qua kết quả trên ghi nhận, nồng độ AUM tương quan có ý nghĩa với các thành tố của HCCH bao gồm BMI, vòng bụng, HATT, HATTr, HDL- cholesterol, triglyceride; và sự tương quan này khác nhau giữa nam và nữ. Không ghi nhận tương quan giữa nồng độ  AUM với đường máu đói.
HCCH và bệnh tim mạch gia tăng nhanh chóng đe dọa sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới, đặc biệt ở những nước đang phát triển như Việt Nam, vì vậy việc cần thiết phải phát hiện những cá nhân không triệu chứng có nguy cơ cao đối với HCCH là hết sức quan trọng nhằm phòng ngừa và điều trị những biến cố tim mạch cũng như giảm gánh nặng kinh tế xã hội. Đặc biệt đối với nam giới có HCCH rất cần thiết phải điều trị phòng ngừa liên quan cải thiện lối sống, hạn chế bia rượu, tăng tập thể dục, chế độ ăn lành mạnh…
Tác giả nghiên cứu có kết luận, mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ axit uric máu với các thành tố của HCCH bao gồm BMI, vòng bụng, HATT, HATTr, triglyceride và mức độ tương quan khác nhau giữa nam và nữ. Riêng ở nữ AUM tương quan nghịch có ý nghĩa với HDL- cholesterol, ở nam AUM tương quan có ý nghĩa với Apo lipoprotein B.
Anh Huy

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 189

Số lượt truy cập: 9289301

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang