[Đăng ngày: 25/06/2018]
Sảy thai liên tiếp (có từ 2 lần sảy thai liên tục trở lên) là một bệnh lý thai sản hay gặp ảnh hưởng đến 1-3% thai kỳ và chiếm tỷ lệ 16% các bệnh lý cần theo dõi ở quý I thai kỳ. Nguyên nhân hay gặp và có thể điều trị được đó là hội chứng kháng phospholipids (Anti phospholipid Syndrome – APS). 

Năm 1983 Graham Hughes đã chứng minh hội chứng kháng phospholipids là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tắc các vi mạch trong bánh rau, từ đó gây nên biểu hiện như sảy thai liên tiếp trong 3 tháng đầu, thai chết lưu, thai chậm phát triển hoặc đẻ non, tiền sản giật nặng v.v…

Bệnh nhân sảy thai liên tiếp được làm test để xác định sự hiện diện của hội chứng kháng Phospholipids. Yêu cầu xét nghiệm xác định bệnh bao gồm: kháng thể kháng phospholipid: aPL (anti phospholipid) và aCL (anticardiolipin): IgM và IgG; LA (lupus anti Coagulant; 2-GpI (antibeta 2 glycoproteinI; kháng thể kháng nhân, kháng thể DNA…Trên lâm sàng, các xét nghiệm thường được sử dụng là: aCL, B2-GPI (IgM và IgG) và LA. Hội chứng kháng phospholipid được chẩn đoán là dương tính nếu có ít nhất một trong các xét nghiệm trên dương tính ở thai phụ có tiền sử sảy thai liên tiếp.

Năm 2009, Việt Nam có những nghiên cứu về hội chứng kháng phospholipid. Năm 2016, nhóm tác giả nghiên cứu Vũ Văn Tâm cùng cộng sự Bệnh viện phụ sản Hải Phòng thực hiện nghiên cứu mô tả, tiến cứu báo cáo đề tài Đặc điểm của kháng thể kháng lipid ở phụ nữ có tiền sử sảy thai liên tiếp. Đối tượng nghiên cứu là 422 thai phụ có tiền sử sảy thai (bao gồm cả sảy thai sống và thai chết lưu) 2 lần liên tiếp trở lên, tuổi thai khi sảy dưới hoặc bằng 12 tuần, qyanr lý thai nghén tại Bệnh viện phụ sản Hải Phòng trong thời gian 1/2016 – 1/2017. Tiêu chuẩn loại trừ: thai phụ bị nhiễm khuẩn, nhiễm virus viêm gan B,C,HIV …

Bác sĩ Tâm phân tích báo cáo, tầng số đối tượng nghiên cứu là 422 trường hợp, có 51 trường hợp APS dương tính, chiếm 12,1%. Đặc điểm bệnh nhân của cả hai nhóm dương tính và 31,2 cho nhóm APS âm tính. Tuổi thai khi đến khám đều dưới 12 tuần, tuổi thai trung bình của hai nhóm APS dương tính và APS âm tính là 5,8 và 5,2 tuần, phần lớn bệnh nhân đến khám sớm khi thai <6 tuần, có 13 trường hợp đến khám khi thai đã >10 tuần.

Kết quả bảng 1 cho thấy tỷ lệ APS dương tính tăng có ý nghĩa ở bệnh nhân có tiền sử sảy thai >7 tuần, 39/51 (76,5%) trường hợp. Nhóm bệnh nhân có tiền sử sảy thai <6 tuần chỉ có 23,5% trường hợp dương tính với kháng thể kháng phospholipid, có lẽ do phần lớn nguyên nhân gây sảy thai sớm <6 tuần là các bất thường về di truyền và thiếu hụt nội tiết trợ thai. Số lần sảy thai không ảnh hưởng tới tần suất APS, tương đương ở các nhóm có số lần sảy khác nhau.

Khảo sát yếu tố liên quan tới hội chứng phospholipid ở bệnh nhân sảy thai liên tiếp đến 12 tuần chúng tôi nhận thấy tỷ lệ thai phụ có hội chứng antiphospholipid ở nhóm có tiền sử bệnh lý tim mạch, tăng huyết áp, sử dụng thuốc tránh thai, bệnh nội tiết cao hơn nhóm không có tiền sử các bệnh lý này, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết quả này cũng là vấn đề đáng quan tâm nghiên cứu thêm vì có thể đó lại là yếu tố có khả năng làm bùng phát lên các biểu hiện bệnh lý của hội chứng antiphospholipid.

Trong số 51 thai phụ có hội chứng antiphospholipid: có 5/51(9,8%) thai phụ có kháng thể lupus anticoagulant, 31/51 (60,8%) có kháng thể kháng cardiolipin, 22/51 (43,1%) có kháng thể beta 2 glucoprotein1. Tính chung trong số 422 đối tượng nghiên cứu có: tỷ lệ dương tính với kháng thể kháng cardiolipin là cao nhất (7,3%), sau đó là kháng thể beta 2 glucoprotein1 (5,2%), chỉ có 0,1% dương tính với kháng thể lupus anticoagulant. Trong số 51 thai phụ có hội chứng antiphospholipid: kháng thể kháng cardiolipin loại IgM là loại kháng thể hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 47,1%, kháng thể kháng thể lupus anticoagulant ít nhất chỉ chiếm 9,8%. Kết quả nghiên cứu này tương tự với nghiên cứu của một số tác giả khác.

Có 45/51 (88,2%) thai phụ có hội chứng antiphospholipid dương tính với 1 loại kháng thể. 5/51 (9,8%) dương tính với 2 loại kháng thể, đặc biệt có 1 trường hợp (1,9%) dương tính với 3 loại kháng thể.
Sự nhận diện kháng thể kháng nguyên là chìa khóa cho đáp ứng miễn dịch, và các kháng nguyên chính trong APS là cardiolipin và phospholipid acid, nằm trên màng tế bào. Vì lipid yếu trong kháng nguyên, việc tạo ra kháng thể đòi hỏi protein hoặc carbohydrate làm chất mang. β2-GP1 được tổng hợp với các tế bào gan, là một protein thường thấy trong huyết tương người ức chế sự kích hoạt của yếu tố đông máu X và XI, điều hòa quá trình đông máu và giảm sự xuất hiện yếu tố đông máu bất thường. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng β2-GP1 hoạt động như một yếu tố đồng pha với phospholipid để kích hoạt thành công phản ứng miễn dịch. β2-GP1 đóng một vai trò phụ trong việc gắn các kháng thể chống phospholipid với các kháng nguyên tương ứng của chúng. Khi β2-GP1 liên kết với phospholipid tích điện âm trên màng tế bào, các glycoprotein trở thành phức hợp phospholipid-protein thông qua sự thay đổi cấu trúc, làm lộ các vị trí chính mà các kháng thể chống phospholipid gắn kết. Một nghiên cứu khác cho thấy β2-GP1 cũng có thể là kháng nguyên chính đối với các kháng thể kháng histamin. Thử nghiệm in vitro cho thấy không có β2-GP1, các kháng thể chống lại kháng huyết thanh tách khỏi huyết thanh gắn với cardiolipin. Tuy nhiên, khi β2-GP1 được bổ sung, các kháng thể chống lại kháng nguyên kháng histamin lại có ái lực cao hơn đối với β2-GP1 so với cardiolipin. Trong quá trình làm tổ của thai nhi, β2-GP1 kết hợp với phospholipid trên màng ối làm xuất hiện các kháng thể chống lại β2-GP1, do đó làm tổn thương màng ối và gây ra sảy thai. Trong số 51 thai phụ có hội chứng antiphospholipid có 4/51 (7,8%) trường hợp dương tính với cả hai loại kháng thể anti cardiolipin và anti β2 glucosepprotein1; 26/51 (50,1%) trường hợp dương tính với kháng thể anti cardiolipin và âm tính với anti β2 glucosepprotein1; 3/51 (5,9%) trường hợp âm tính với cả hai loại kháng thể này; 17/51 (33,3%) trường hợp âm tính với kháng thể anti cardiolipin nhưng lại dương tính với anti β2 glucosepprotein1. Như vậy nếu trước đây, chẩn đoán hội chứng antiphospholipid chỉ dựa vào 2 xét nghiệm LA và aCL thì sẽ bỏ qua 33,3% (17/51) trường hợp có hội chứng antiphospholipid. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò của anti β2 glucoprotein1 trong chẩn đoán hội chứng này. 

Tác giả nghiên cứu có kết luận, có 51/422 trường hợp có hội chứng kháng phospholipid chiếm tỷ lệ 12,1%. Trong đó 9,8% thai phụ có kháng thể lupus anticoagulant, 60,8% có kháng thể kháng cardiolipin, 43,1% có kháng thể beta2 glucosepprotein1; 50,1% trường hợp dương tính với kháng thể anti cardiolipin và âm tính với anti β2 glucoprotein1; 5,9 trường hợp âm tính với cả hai loại kháng thể này; 17/51 (33,3%) trường hợp âm tính với kháng thể anti cardiolipin nhưng lại dương tính với anti β2 glucoprotein1. Hội chứng kháng phospholipid là nguyên nhân hay gặp nhất gây sảy thai liên tiếp. Cần lưu ý các yếu tố làm khởi phát bệnh và phối hợp các xét nghiệm để chẩn đoán APS.
Trần Hưng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 197

Số lượt truy cập: 9289293

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang