Việt Nam đã thực hiện tốt mục tiêu thiên niên kỷ về giảm tử vong mẹ. Kết quả năm 2015 giảm xuống còn 58,3/100.000 trẻ được sống.

Báo cáo tóm tắt “Xu hướng tử vong mẹ từ 1990 đến 2015” của Liên hiệp quốc ước tính tỷ số tử vong mẹ năm 2015 tại Việt Nam là 54/100.000 trẻ đẻ sống. Trong vòng 15 năm gần đây ở Việt Nam tử vong mẹ đã giảm và đã có sự thay đổi theo hướng giảm dần tỷ lệ tử vong mẹ do nguyên nhân trực tiếp và tăng tỷ lệ tử vong do nguyên nhân gián tiếp. Theo Điều tra tử vong mẹ 2001-2002, các nguyên trực tiếp gây tử vong mẹ 76,3% và nguyên nhân gián tiếp gây tử vong mẹ chiếm 23,7%. Tỷ lệ tương ứng của Điều tra 2006-2007 là 68% và 18,7%. Số liệu mới nhất (năm 2014) của Vụ sức khỏe Bà mẹ- Trẻ em, Bộ Y tế cho thấy nguyên nhân trực tiếp chiếm 59,7% và có tới 35,4% là do nguyên nhân gián tiếp. Điều này cho thấy tính hiệu quả của các can thiệp về cấp cứu, hồi sức sản khoa được triển khai trong thời gian qua ở nước ta nhưng mặt khác cũng cho thấy sự cần thiết phải quan tâm hơn đến các can thiệp nhằm làm giảm các nguy cơ dẫn đến tử vong mẹ do các nguyên nhân gián tiếp gây ra.
Nhằm tìm hiểu thực trạng tử vong mẹ ở Việt Nam như thế nào? Các nguyên nhân chính gây ra tử vong mẹ là gì. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu tử vong mẹ. Tác giả Trần Đăng Khoa cùng cộng sự Vụ Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em - Bộ Y tế tiến hành nghiên cứu, đánh giá: Hiện trạng tử vong mẹ ở Việt Nam năm 2015, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu hơn nữa tử vong mẹ trên toàn quốc năm 2015, nguyên nhân tử vong mẹ, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp giảm tử vong mẹ ở Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu là điều tra mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính. Thu thập số liệu định lượng theo mẫu báo cáo tử vong mẹ. Thảo luận nhóm tuyến tỉnh - Hội đồng Thẩm định tử vong mẹ của tỉnh. Phạm vi: Thu thập số liệu tử vong mẹ của 63 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trên phạm vi toàn quốc trong năm 2015 thời điểm từ 01/01/2015 đến 31/12/2015.
Về khái niệm, định nghĩa tử vong mẹ là tử vong của phụ nữ trong thời gian mang thai hoặc trong vòng 42 ngày sau khi kết thúc thai nghén do bất cứ nguyên nhân nào liên quan đến thai nghén hoặc bệnh lý bị nặng lên do mang thai hoặc sinh đẻ gây ra mà không phải do tai nạn hoặc tự tử.
Phân loại nguyên nhân tử vong mẹ: nguyên nhân tử vong mẹ trực tiếp: tử vong do biến chứng sản khoa hoặc do can thiệp thủ thuật, sai sót trong chẩn đoán, điều trị và biến chứng của các nguyên nhân trên. Nguyên nhân tử vong mẹ gián tiếp: tử vong do các bệnh đã có từ trước hoặc trong khi mang thai làm nặng lên do ảnh hưởng của thai nghén. Đối với 3 chậm trễ: chậm trễ 1: Chậm phát hiện và quyết định tìm đến cơ sở y tế; Chậm trễ 2: Chậm tiếp cận dịch vụ y tế; Chậm trễ 3: Chậm chăm sóc và điều trị.
Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, chảy máu là nguyên nhân tử vong mẹ trực tiếp gặp nhiều nhất, chiếm 47,9%, sau đó là do tắc mạch ối chiếm 19,7% và tiền sản giật/sản giật chiếm 9,9%. Khu vực Trung du và miền núi phía Bắc là nơi có nhiều bà mẹ tử vong do chảy máu nhất. Chảy máu, tắc mạch ối và tiền sản giật/sản giật đây vẫn là 3 nguyên nhân trực tiếp gây ra tử vong mẹ nhiều nhất trong những năm qua ở Việt Nam. Phân tích sâu các hồ sơ tử vong mẹ do cháy máu và hỏi cán bộ y tế tỉnh được biết rằng: “do bệnh viện huyện không có máu truyền kịp thời, không có đủ phương tiện cầm máu như đặt bóng chèn, chuyển viện không an toàn, chết do mất máu trên đường chuyển viện, tuyến trên không hỗ trợ cấp cứu kịp thời”. Như vậy, ngành y tế các địa phương nếu làm tốt, hạn chế các nguyên nhân trên thì có thể cứu sống được một số bà mẹ tử vong do nguyên nhân chảy máu, mất máu, không để xảy ra những trường hợp bà mẹ tử vong đáng tiếc do nguyên nhân chảy máu mà đáng lẽ ra có thể cứu sống được nếu có đầy đủ phương tiện và máu để truyền.
Tỷ lệ tử vong mẹ do các nguyên nhân gián tiếp là 26,9%, cao hơn so với kết quả nghiên cứu được tiến hành tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc năm 2015 là 18,5%. Tỷ lệ này cũng cao hơn so với kết quả phân tích thẩm định tử vong mẹ năm 2012 (23,2%). Tử vong mẹ do nguyên nhân gián tiếp cao nhất tại khu vực Tây Nguyên với tỷ lệ 35%. Xu hướng tử vong mẹ do nguyên nhân gián tiếp tăng lên. Điều này cho thấy hiệu quả của các can thiệp, đầu tư nâng cao năng lực hồi sức và cấp cứu sản phụ khoa, tuy nhiên cũng cho thấy rằng cần phải quan tâm dự phòng và điều trị các bệnh là nguyên nhân gián tiếp như: bệnh tim mạch vẫn luôn là nguyên nhân gây tử vong mẹ hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong mẹ gián tiếp ở Việt Nam, sau đó là xuất huyết não, bệnh gan và bệnh phổi.
Thanh Tùng