[Đăng ngày: 13/06/2018]
Việt Nam đã thực hiện tốt mục tiêu thiên niên kỷ về giảm tử vong mẹ. Kết quả năm 2015 giảm xuống còn 58,3/100.000 trẻ được sống.

Báo cáo tóm tắt “Xu hướng tử vong mẹ từ 1990 đến 2015” của Liên hiệp quốc ước tính tỷ số tử vong mẹ năm 2015 tại Việt Nam là 54/100.000 trẻ đẻ sống. Trong vòng 15 năm gần đây ở Việt Nam tử vong mẹ đã giảm và đã có sự thay đổi theo hướng giảm dần tỷ lệ tử vong mẹ do nguyên nhân trực tiếp và tăng tỷ lệ tử vong do nguyên nhân gián tiếp. Theo Điều tra tử vong mẹ 2001-2002, các nguyên trực tiếp gây tử vong mẹ 76,3% và nguyên nhân gián tiếp gây tử vong mẹ chiếm 23,7%. Tỷ lệ tương ứng của Điều tra 2006-2007 là 68% và 18,7%. Số liệu mới nhất (năm 2014) của Vụ sức khỏe Bà mẹ- Trẻ em, Bộ Y tế cho thấy nguyên nhân trực tiếp chiếm 59,7% và có tới 35,4% là do nguyên nhân gián tiếp. Điều này cho thấy tính hiệu quả của các can thiệp về cấp cứu, hồi sức sản khoa được triển khai trong thời gian qua ở nước ta nhưng mặt khác cũng cho thấy sự cần thiết phải quan tâm hơn đến các can thiệp nhằm làm giảm các nguy cơ dẫn đến tử vong mẹ do các nguyên nhân gián tiếp gây ra.

Nhằm tìm hiểu thực trạng tử vong mẹ ở Việt Nam như thế nào? Các nguyên nhân chính gây ra tử vong mẹ là gì. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu tử vong mẹ. Tác giả Trần Đăng Khoa cùng cộng sự Vụ Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em - Bộ Y tế tiến hành nghiên cứu, đánh giá: Hiện trạng tử vong mẹ ở Việt Nam năm 2015, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu hơn nữa tử vong mẹ trên toàn quốc năm 2015, nguyên nhân tử vong mẹ, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp giảm tử vong mẹ ở Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu là điều tra mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính. Thu thập số liệu định lượng theo mẫu báo cáo tử vong mẹ. Thảo luận nhóm tuyến tỉnh - Hội đồng Thẩm định tử vong mẹ của tỉnh. Phạm vi: Thu thập số liệu tử vong mẹ của 63 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trên phạm vi toàn quốc trong năm 2015 thời điểm từ 01/01/2015 đến 31/12/2015.

Chậm trễ 1: Là chậm phát hiện và quyết định tìm đến cơ sở y tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy 2 nguyên nhân gây chậm trễ 1 tần số xuất hiện gặp nhiều nhất là do thai phụ và người nhà không nhận thức được mức độ nguy hiểm của bệnh (89,1%) và do chậm phát hiện các dấu hiệu bất thường (74,5%). Đây cũng là hai nguyên nhân gặp nhiều nhất trong nghiên cứu được thực hiện tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc năm 2015, lần lượt là 77,1 và 78,6%. Vấn đề đặt ra là thai phụ và người nhà thai phụ nếu quan tâm, theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các dấu hiệu bất thường của thai phụ, nhanh chóng quyết định đến cơ sở y tế để theo dõi và xử trí kịp thời thì có thể giảm thiểu được tử vong đáng tiếc xảy ra.

Chậm trễ 3: Là chậm trong chăm sóc và điều trị. Tử vong mẹ liên quan đến chậm trễ 3 chiếm nhiều nhất với tỷ lệ 56% (60/108) trong 03 chậm trễ. Tỷ lệ tử vong mẹ liên quan đến 3 chậm trễ có sự thay đổi theo thời gian. Số liệu năm 2012 cho thấy, chậm trễ 1 nhiều nhất 53,4%, sau đó là chậm trễ 3 là 46%. Chậm trễ 2 ít gặp nhất là 29,1% (2012) và 27% (2015). Có 14,8% các bà mẹ tử vong liên quan đến cả 3 chậm trễ, ít hơn so với tỷ lệ này năm 2012 là 22,8%.

Kết quả nghiên cứu cho thấy nguyên nhân hàng đầu gây chậm trễ 3 là do chẩn đoán/xử trí muộn với tỷ lệ 68,3%. Chuyển tuyến muộn/không được chuyển tuyến chiếm 26,7%. Không có đầy đủ bác sĩ sản khoa và các bác sĩ chuyên ngành khác có liên quan như ngoại khoa, gây mê hồi sức chiếm 26,7% và không đủ máu truyền chiếm 25%. Kết quả còn cho thấy có 54,6% các trường hợp tử vong mẹ xảy ra trong chuyển dạ và trong thời gian 24 giờ đầu sau đẻ. Qua đây cho thấy rằng, cần phải tăng cường năng lực chuyên môn và chấn chỉnh đội ngũ cán bộ y tế cần phải theo dõi sát sao, chẩn đoán và xử trí kịp thời, tiên lượng được cuộc đẻ đối với trường hợp phụ nữ có thai đến sinh đẻ, cấp cứu, chuyển tuyến kịp thời và an toàn, đặc biệt là cần sự hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật kịp thời cả về nhân lực, phương tiện, thuốc, máu, dịch truyền của tuyến trên để có thể cấp cứu được các trường hợp tử vong mẹ không đáng xảy ra tử vong.

Tác giả có kết luận và kiến nghị đó là, tử vong mẹ ở Việt Nam năm 2015 do nguyên nhân trực tiếp là 65,7%, gián tiếp là 26,9%. Nguyên nhân tử vong trực tiếp hàng đầu là chảy máu chiếm 47,9% và chảy máu cao nhất ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, sau đó là do tắc mạch ối chiếm 19,7% và tiền sản giật/sản giật chiếm 9,9%. Nguyên nhân gây chậm trễ 1 tần số xuất hiện gặp nhiều nhất là do không nhận thức được mức độ nguy hiểm của bệnh (89,1%) và do chậm phát triển các dấu hiệu bất thường (74,5%). Tử vong mẹ liên quan đến chậm trễ 3 chiếm nhiều nhất với tỷ lệ 56%, trong đó, nguyên nhân hang đầu gây chậm trễ 3 là do chẩn đoán/xử trí muộn với tỷ lệ 68,3%. Tử vong mẹ xảy ra trong thời gian chuyển dạ và trong thời gian 24 giờ sau đẻ chiếm 54,6% các ca tử vong nhẹ.

Bộ Y tế, ngành Y tế các địa phương cần phải tăng cường năng lực chuyên môn hồi sức và cấp cứu sản phụ khoa cho tuyến huyện và tuyến tỉnh, đặc biệt là năng lực cấp cứu chảy máu; đồng thời quán triệt cán bộ y tế thực hiện nghiêm quy chế chuyên môn, quy trình kỹ thuật trong bệnh viện, cần chẩn đoán, theo dõi, tiên lượng và xử trí kịp thời.
Hữu Lai

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 185

Số lượt truy cập: 9289336

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang