[Đăng ngày: 08/04/2016]
Võng mạc là bộ phận cảm thụ ánh sáng, trong đó hoàng điểm là trung tâm của võng mạc, nơi cho thị lực tinh tế nhất. Ảnh hưởng của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) trên võng mạc làm cho võng mạc bị tổn thương nặng và gây ảnh hưởng trầm trọng tới chức năng thị giác.
Bệnh võng mạc ĐTĐ là nguyên nhân chính gây ra mù lòa ở các nước phát triển và dần trở nên phổ biến ở các nước đang phát triển. Bệnh võng mạc ĐTĐ xảy ra trong 90% các trường hợp ĐTĐ tiến triển sau 10 – 15 năm, bất kể thể loại ĐTĐ phụ thuộc insulin hay không phụ thuộc insulin.
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) tỷ lệ bệnh võng mạc ĐTĐ chiếm từ 20% đến 40% người bị ĐTĐ, giới hạn này tùy theo từng quốc gia và khu vực. ĐTĐ týp I sau 5 năm có 25% bệnh nhân bị bệnh võng mạc ĐTĐ, sau 10 năm là 60%; ĐTĐ typ II sau 5 năm là 40% có bệnh võng mạc ĐTĐ và 2% có bệnh võng mạc ĐTĐ tăng sinh. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực và gây mù. Bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ có nguy cơ mù lòa tăng gấp 20 – 30 lần so với người cùng tuổi và giới.
Từ tháng 1 – 8/2015, Bs Võ Hữu Thư đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát tình hình tổn thương võng mạc ở bệnh nhân ĐTĐ tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa”. Trong nghiên cứu, đối với soi đáy mắt đối tượng nghiên cứu BS Thư tiến hành soi đáy mắt ở cả hai mắt hoặc một mắt nếu mắt kia không thể soi thấy được (do đục giác mạc, đục thủy tinh thể, xuất huyết dịch kính nhiều …) Nếu nghi ngờ có tổn thương võng mạc ở vùng chu biên khi các vùng khác không thấy được bằng đèn soi đáy mắt cầm tay (Heine Beta 200) thì dùng kính Goldmann và đèn khe sinh hiển vi để kiểm tra đáy mắt.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 168 đối tượng tham gia nghiên cứu, bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ 63% nhiều hơn so với nam giới (37%), nhóm tuổi bị nhiều nhất là 40 – 79 tuổi với tỷ lệ 82,7%; trong đó nhóm 60 – 79 tuổi chiếm 50,6%.
Bệnh nhân có thời gian mắc bệnh ĐTĐ nhiều nhất là 5 đến 9 năm (60,7%); tiếp theo là 10 đến 14 năm (13,7%).
Trong số bệnh nhân bị ĐTĐ, có đến 86,9% không tuân thủ điều trị; chỉ có 13,1% tuân thủ điều trị.
Tỷ lệ tổn thương võng mạc ở bệnh nhân bị bệnh đái tháo đường là 27,4%; tỷ lệ này thấp hơn so với một số nghiên cứu trong nước.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh ĐTĐ, quá trình điều trị đến tình hình và mức độ tổn thương võng mạc. Đối với các yếu tố về giới tính, tình hình và mức độ tổn thương võng mạc không có mối liên quan.
BS Võ Hữu Thư đã đưa ra những khuyến nghị cụ thể gồm: Cần tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong dân chúng về các mối nguy hại do bệnh ĐTĐ gây ra và cách phòng tránh bệnh ĐTĐ.
Với người bệnh đã bị ĐTĐ, cần tuyên truyền, phổ biến rộng rãi về các nguy cơ của các biến chứng; đồng thời phổ biến việc cần phải tuân thủ đúng các nguyên tắc điều trị để góp phần ngăn ngừa, hạn chế các hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, trong đó có các biến chứng tại mắt.
Cần có các nghiên cứu chuyên sâu hơn về các biến chứng khác của bệnh ĐTĐ để giúp người bệnh được chăm sóc sức khỏe tốt hơn.
Bệnh viện cần đầu tư thêm về trang thiết bị; nâng cao năng lực chuyên khoa mắt, có kế hoạch tầm soát các biến chứng tại mắt trên bệnh nhân ĐTĐ … để giúp người bệnh tránh được cảnh mù lòa do bệnh gây ra.
BS Thư cũng cho rằng đây là nhiệm vụ chung của nhiều ngành, của toàn xã hội chứ không chỉ riêng của ngành y tế.
Chúng ta biết rằng để phòng ngừa bệnh võng mạc ở người ĐTĐ, bệnh nhân phải được ổn định đường huyết, huyết áp, mỡ trong máu trong giới hạn bình thường, giảm và tiến tới ngưng hút thuốc lá, rượu bia, nên tập thể dục thường xuyên. Nên tuân thủ việc tái khám theo lịch hẹn của bác sĩ chuyên khoa đáy mắt và bác sĩ điều trị ĐTĐ.
Khám mắt để phát hiện sớm và điều trị bệnh võng mạc do ĐTĐ. Khám tầm soát tất cả bệnh nhân ĐTĐ để phát hiện sớm ra bệnh bao gồm thử thị lực, tra thuốc giãn đồng tử để soi đáy mắt có hệ thống trên máy sinh hiển vi.
Tùy từng giai đoạn của bệnh và tổn thương của võng mạc trên người bệnh bác sĩ chuyên khoa mắt sẽ có chỉ định điều trị hoặc theo dõi định kỳ.
Song song với đó, bệnh nhân cần được điều trị tích cực bệnh ĐTĐ, đưa được ngưỡng đường huyết trở về ngưỡng bình thường.
Về quy trình khám và điều trị bệnh võng mạc ĐTĐ: BS Thư cho biết cần khám tổng quát về mắt để đánh giá chức năng chung của mắt; tra thuốc giãn đồng tử để khám đáy mắt; chụp đáy mắt ảnh màu để nhận định các tổn thương giai đoạn sớm; nếu đã xuất hiện các tổn thương, chụp mạch máu huỳnh quang và chụp cắt lớp quang học (OCT) để đánh giá. Hệ thống chụp mạch huỳnh quang kỹ thuật số cho phép phát hiện các tổn thương phù, xuất huyết, thiếu máu, tân mạch bất thường rất chính xác. Chụp OCT cũng là một phương pháp rất hiện đại để đánh giá tình trạng phù và tổn thương của võng mạc trung tâm.
Điều trị tổn thương bằng laser quang đông võng mạc. Các loại laser tiên tiến hiện nay như laser chùm PASCAL, cho phép điều trị chính xác, hiệu quả, không đau và rất nhanh.
Nếu bệnh nhân có chỉ định sẽ được dùng các thuốc đặc biệt như LUCENTIS để điều trị các dạng mạch máu bất thường ở đáy mắt do bệnh ĐTĐ gây ra.
Phúc Nguyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 128

Số lượt truy cập: 9369462

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang