
Xương đòn là một xương dài, tạo nên phần trước của đai vai. Xương nằm ngang phía trước và trên của ngực. Thân xương dẹt cong hình chữ S. Đầu xương phía ngoài khớp nối với mỏm cùng vai. Đầu xương phía trong nối với xương ức.
Xương đòn nối với xương vai tạo thành một nửa vòng đai cho mỗi bên thân mình. Mỗi nửa đai chỉ khớp ở xương ức ở phía trước. Vì vậy, vòng đai có thể chuyển động rộng rãi. Khi chấn thương: ngã, đập vào vai ở tư thế chống khủy hay bàn tay xuống đất... chấn thương truyền đến đai vai làm tổn thương hai xương của đai vai. Tuy nhiên vì xương vai chuyển động được nhiều, xương đòn ít chuyển động hơn nên cũng dễ gãy hơn. Điểm yếu thường gãy của xương đòn ở chỗ nối giữa 1/3 ngoài và 2/3 trong.
Chẩn đoán gãy xương đòn dựa vào cơ chế chấn thương, triệu chứng lâm sàng; chụp phim Xquang. Hầu hết gãy xương đòn đều điều trị bảo tồn; một số trường hợp điều trị phẫu thuật; Kirschner là một loại đinh nội tủy xương đòn, là dụng cụ hữu ích trong việc cố định tạm thời hay vĩnh viễn xương gãy, bất động khớp tạm thời hay dẫn đường cho phương pháp khác. Đinh Kirschner dẻo làm bằng thép không rỉ, được sử dụng rộng rãi trong phẫu thuật chỉnh hình.
Từ tháng 10/2013 đến tháng 10/2015, BS. Trần Ngọc Luận đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Kết quả phẫu thuật điều trị gãy 1/3 giữa xương đòn bằng đinh Kirschner tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa”.
Tiêu chuẩn chọn bệnh là tất cả bệnh nhân gãy 1/3 giữa xương đòn có chỉ định phẫu thuật kết hợp xương bên trong dùng đinh nội tủy. Bệnh nhân > 16 tuổi, không phân biệt giới tính. Bệnh nhân đồng ý tham gia phẫu thuật và không có bệnh lý khác chống chỉ định phẫu thuật. Tiêu chuẩn loại trừ là bệnh nhân gãy xương đòn do bệnh lý như ung thư xương, lao xương. Bệnh nhân đã phẫu thuật kết hợp xương gãy 1/3 giữa xương đòn trước đó thất bại: Khớp giả...
Theo BS. Luận, kỹ thuật sử dụng đinh Kirschner 2.0, 2.2, 2.4, 2.5 tùy theo kích thước lòng tủy sao cho phù hợp. Khoan từ trong ổ gãy ra da, rồi nắn ổ gãy, xuyên từ ngoài qua hai đầu ổ gãy, uốn quặp đinh (có thể để đinh phía trước hoặc phía sau xương đòn) dùng chỉ thép hoặc chỉ tan chậm để cố định những mảnh gãy rời tùy theo mảnh rời lớn hay nhỏ. Kiểm tra ổ gãy vững, bơm rửa sạch bằng nước muối sinh lý.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 58 đối tượng nghiên cứu tham gia, tỷ lệ nam giới chiếm gần 80%, gãy bên phải và bên trái tương đương nhau. Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 16-29 chiếm 34,5%. Tuổi thấp nhất là 16, cao nhất là 70, tuổi trung bình 36,67 ± 15,66. Đặc điểm tổn thương của gãy xương đòn ở người lớn trong nghiên cứu của BS. Luận dựa theo phân loại Robinson chủ yếu là nhóm B1 chiếm 84,5%, B2 chiếm 15,5%. Cơ chế chấn thương chủ yếu là té đập vai và đa số do tai nạn giao thông gây ra. Tỷ lệ lành xương 98,3%, chậm lành xương 1,7% không có trường hợp nào không lành xương. Mức độ phục hồi giải phẫu thẳng trục 89,7%, di lệch gập góc dưới 100 là 10,3%. Trong nghiên cứu của BS. Luận gặp nhiều nhất biến chứng sau mổ là trồi đinh 6,9%, sẹo xấu 5,1%, can xương xấu 3,4%. Phục hồi chức năng khớp vai sau 6 tháng 100%, đánh giá theo thang điểm Constant và Murley. Kết quả điều trị có mối liên quan với: loại gãy, dụng cụ kết hợp xương và đường gãy.
Theo BS. Luận điều trị phẫu thuật gãy xương đòn bằng đinh nội tủy Kirschner là phương pháp điều trị dễ thực hiện với dụng cụ kết hợp xương đơn giản, rẻ tiền, cho kết quả lành xương cao (98,3%), ít biến chứng. Phương pháp này dễ dàng được áp dụng rộng rãi ở các bệnh viện có chuyên khoa chấn thương chỉnh hình.
BS. Trần Ngọc Luận đã có kiến nghị là điều trị phẫu thuật gãy 1/3 giữa xương đòn bằng đinh nội tủy Kirschner phù hợp với điều kiện về trang thiết bị của Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa. Bệnh nhân chấp nhận kết quả điều trị cũng như chi phí điều trị, kết quả lành xương cao. Phương pháp này có thể áp dụng cho các bệnh nhân có chỉ định phẫu thuạt phù hợp với dùng đinh Kirschner.
Ngô Thanh