
Theo báo cáo của Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa, tính đến ngày 31/12/2014, thị xã Ninh Hòa có số người nhiễm HIV/AIDS là 119 trường hợp, chiếm 6,6% số nhiễm toàn tỉnh, tỷ lệ mắc 0,05%. Công tác phòng chống HIV/AIDS trong nhiều năm qua đã được Đảng, chính quyền địa phương rất quan tâm, ngành y tế đã chủ động và phối hợp triển khai thực hiện nhiều hoạt động liên quan đến công tác phòng lây nhiễm HIV/AIDS như: can thiệp giảm tác hại trong nhóm nguy cơ cao, hoạt động tiếp cận cộng đồng, phòng xét nghiệm HIV tự nguyện, điều trị kháng virus HIV (ARV) và nhiều hoạt động tuyên truyền mang lại hiệu quả tích cực góp phần giảm tỷ lệ nhiễm HIV mới hàng năm từ 20-40% trên địa bàn thị xã.
Từ tháng 3-10/2015, BS.CKI Huỳnh Tấn Lộc đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS trong phụ nữ bán dâm tại thị xã Ninh Hòa năm 2015”.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 155 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tham gia; độ tuổi 20-19 chiếm tỷ lệ cao nhất 66,5%; nhóm 30-39 tuổi chiếm tỷ lệ 21,3%.
Theo BS.Lộc phân tích, đối với liên quan đến hiểu biết về HIV/AIDS các đối tượng nhận biết HIV/AIDS từ các nguồn thông tin trực quan và trao đổi trực tiếp như ti vi (58,7%); nhân viên tiếp cận cộng đồng (55,5%); bạn bè (51,5%); biết đường lây truyền HIV cao khi dùng chung bơm kim tiêm, quan hệ tình dục (QHTD) không sử dụng bao cao su (80%), lây truyền từ mẹ sang con (69,6%). Đồng thời, biết cách phòng tránh lây nhiễm HIV bằng cách sử dụng bao cao su (BCS) trong QHTD (94%); không dùng chung bơm kim tiêm (79,7%). Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều đối tượng hiểu sai về HIV/AIDS như HIV lây qua muỗi đốt (18,6%), dùng chung vật dụng sinh hoạt (7,9%), qua giao tiếp (7,1%). Bên cạnh đó, đối tượng cũng có nhu cầu cần tìm hiểu thêm thông tin về HIV/AIDS (91,6%). Đây là nhu cầu cần thiết, trong đó cần quan tâm đến lực lượng nhân viên tiếp cận cộng đồng nhằm trang bị kiến thức phòng, chống HIV/AIDS trực tiếp đến các phụ nữ bán dâm qua các buổi tiếp cận, truyền thông nhóm, góp phần phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng từ các đối tượng phụ nữ mại dâm.
Về thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS, khi có chồng, bạn tình nhiễm HIV/AIDS, đối tượng biết dùng BCS khi QHTD phòng lây nhiễm đạt tỷ lệ thấp (53,5%); không biết (27,7%); ly thân, ly hôn (18,7%); động viên, an ủi, chăm sóc (54,2%); xa lánh, ở riêng (20%); không đồng ý người có HIV lập gia đình (43,9%) và người nữ có HIV mang thai (56,8%). Với các tỷ lệ nêu trên, nhận thấy sự hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về phòng lây truyền HIV/AIDS từ chồng, bạn tình còn thấp và có biểu hiện phân biệt kỳ thị đối với người có HIV/AIDS.
Đối với những hành vi liên quan, thường xuyên sử dụng BCS trong QHTD (70,3%); hiểu biết sử dụng BCS thường xuyên phòng tránh HIV, bệnh hoa liễu, tránh thai (51,4%) tỷ lệ này còn thấp so với yêu cầu sử dụng 100% BCS khi QHTD trong đối tượng nguy cơ cao. Nguyên nhân do khách hàng, bạn tình phản đối sử dụng BCS cao (67,4%); không có sẳn BCS (17,4%) và không thích dùng (15,2%). Đối tượng không nhận được BCS còn khá cao (37,4%), điều này liên quan đến việc giảm dần nguồn cung cấp BCS từ cơ quan cấp trên, khuyến khích sử dụng BCS nguồn tiếp thị xã hội.
Đối tượng là phụ nữ bán dâm có tiêm chích ma túy (TCMT) có tỷ lệ 2,6%; có chồng, người yêu TCMT là 8,4%; trong đó có sử dụng chung bơm kim tiêm là 0,6%. Đây là đối tượng có nguy cơ lây nhiễm rất cao, vì vậy cần tập trung tuyên truyền cho các đối tượng này cần thay đổi hành vi và áp dụng các biện pháp sử dụng BCS trong QHTD và dùng bơm kim tiêm sạch khi TCMT.
Số đối tượng không khám bệnh lây truyền qua đường tình dục, không biết nơi tư vấn xét nghiệm HIV có tỷ lệ cao (36,1%) và không xét nghiệm HIV (40%). Vấn đề này cần thực hiện các hoạt động quảng bá, tiếp thị các cơ sở khám STI và xét nghiệm HIV; đồng thời tiếp cận và vận động đối tượng đi xét nghiệm HIV để biết tình trạng sức khỏe, khuyến khích tự cá nhân phòng lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho mình và cho cộng đồng.
Đối tượng có xét nghiệm dương tính HIV (1,3%) nhưng vẫn hành nghề mại dâm, nếu không áp dụng các biện pháp phòng lây nhiễm HIV cho bạn tình, cho khách hàng thì sự lây nhiễm HIV cho cộng đồng của những đối tượng này rất dễ xảy ra và lan rộng. Vì vậy, nhân viên tiếp cận cộng đồng cần trực tiếp hướng dẫn các biện pháp triệt để, phòng lây nhiễm của nhóm đối tượng nguy cơ cao này.
BS.Huỳnh Tấn Lộc đã đưa ra các giải pháp từ kết quả nghiên cứu là các can thiệp về truyền thông trong thời gian tới cần tập trung vào các nội dung và các kênh thông tin như tuyên truyền nâng cao kiến thức chung về HIV/AIDS; kiến thức về cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS cho phụ nữ bán dâm trên địa bàn thị xã; tuyên truyền về HIV/AIDS và các vấn đề liên quan trên nhiều kênh thông tin, tuy nhiên tập trung tuyên truyền nhiều hơn trên các kênh như ti vi, tờ rơi/ sách báo, đài truyền thanh, trong đó chú ý kênh truyền thông từ nhân viên tiếp cận cộng đồng, đặc biệt nhấn mạnh muỗi đốt không làm lây truyền HIV; phổ biến Luật Phòng chống HIV/AIDS và các văn bản liên quan đến HIV/AIDS sâu rộng cho đối tượng bán dâm và mọi tầng lớp nhân dân; tuyên truyền việc chống kỳ thị phân biệt đối xử với người có HIV, có thái độ cư xử đúng đắn với người nhiễm HIV nhằm góp phần giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS và thành viên gia đình họ. Các thông điệp cụ thể cần tuyên truyền là ai cũng có thể nhiễm HIV, chỉ có một số người hoặc một số nhóm người có nguy cơ cao hơn; nơi sống tốt nhất dành cho người nhiễm HIV là tại gia đình và cộng đồng; người nhiễm HIV có quyền được kết hôn…Tuyên truyền về việc cần thiết phải sự dung BCS thường xuyên trong QGTD để phòng lây nhiễm HIV.
Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức, thái độ và hành vi của phụ nữ bán dâm trong việc phòng lây truyền HIV/AIDS còn thấp, đặc biệt là tỷ lệ tự nguyện xét nghiệm HIV và có trường hợp có HIV dương tính nhưng vẫn hành nghề bán dâm. Vì vậy, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông, tư vấn nhằm giúp họ thay đổi nhận thức, thái độ và thay đổi hành vi, áp dụng các biện pháp phòng lây nhiễm, tự nguyện làm xét nghiệm HIV để phát hiện sớm tình trạng có HIV, từ đó có kế hoạch dự phòng lây truyền HIV cho họ và cho cộng đồng.
Trần Mai