
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc đã đưa ra khuyến cáo về việc nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, khẳng định việc nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là một khâu quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu. Các nhà khoa học đã chỉ ra rất nhiều lợi ích sức khỏe của việc NCBSM cho cả mẹ và con.
Hiện nay, tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đang giảm trần trọng, không chỉ ở thành phố lớn mà còn lan rộng đến các vùng nông thôn, nhiều bà mẹ đã không cho con bú sữa của mình mà thay vào đó là các loại sữa nhân tạo. Nhiều hội nghị về công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em cũng đã lên tiếng báo động về thực trạng đáng lo ngại này. Nguyên nhân chủ yếu là thái độ xã hội, trong đó thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng, nhất là người chồng. Các bậc ông, bà thiếu kiến thức và các bà mẹ không ý thức được vai trò quan trọng của việc NCBSM. Chính những quan niệm sai lầm đó dẫn đến những rào cản trong việc NCBSM, đặc biệt là trong 6 tháng đầu (chỉ 10% bà mẹ nuôi con hoàn hoàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, thấp nhất khu vực Tây Thái Bình Dương)
Từ tháng 4-9/2015, CN.Trương Thị Hồng Anh đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con đang điều trị tại Khoa Nhi- Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa”.
Tiêu chuẩn chọn nghiên cứu là các bà mẹ có con bị bệnh đang điều trị tại khoa Nhi- Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 384 bà mẹ tham gia nghiên cứu; 66,7% bà mẹ có độ tuổi 25-35. Về trình độ học vấn, đối tượng nghiên cứu có trình độ THCS là 46%, trình độ Trung cấp, cao đẳng, đại học hơn 13%.
Đối với kiến thức về lợi ích của sữa mẹ, tác giả nghiên cứu đã báo cáo có 92,7% bà mẹ tham gia nghiên cứu có kiến thức chung đúng về lợi ích của sữa mẹ, trong đó: 97,9% bà mẹ biết sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất, 7,3% bà mẹ có kiến thức chưa đúng về lợi ích của sữa mẹ.
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chung đúng về cách cho trẻ bú là 90,4% (trong đó 97,5% bà mẹ biết khi cho trẻ bú cần phải làm gì), có 9,6% bà mẹ có kiến thức chưa đúng về cách cho trẻ bú.
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về lý do NCBSM là 69,8%; trong đó 91,4% bà mẹ biết được lợi ích cho mẹ khi cho trẻ bú, có 41,4% bà mẹ biết được lý do để các bà mẹ cho trẻ bú thêm sữa khác; có đến 30,2% bà mẹ có kiến thức chưa đúng về lý do NCBSM.
Trong nghiên cứu, có 68,2% bà mẹ có kiến thức chung đúng về NCBSM, một tỷ lệ khá lớn bà mẹ trong nghiên cứu có kiến thức chưa đúng về NCBSM (31,8%).
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những mối liên quan giữa kiến thức đúng với các đặc điểm của bà mẹ, đó là tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi sinh sống có liên quan đến kiến thức đúng về NCBSM (p<0,05); số lần sinh con lại không liên quan đến kiến thức đúng về NCBSM (p>0,05).
CN.Hồng Anh đã nêu ra những kiến nghị cụ thể là cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ kiến thức của việc NCBSM, lợi ích cho mẹ và trẻ khi được nuôi bằng sữa mẹ qua nhiều hình thức: khẩu hiệu, hình ảnh sinh động, đề cao vai trò của nhân viên y tế thôn bản. Tăng cường tư vấn cho các bà mẹ và người thân về NCBSM trong thời gian nằm viện.
Cần thường xuyên mở các lớp huấn luyện, đào tạo thêm cho nhân viên y tế để được cập nhật những thông tin mới nhất về mọi lĩnh vực trong y tế, nhất là hộ sinh phải thành thạo hơn trong công tác chăm sóc và tư vấn cho các bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ.
Theo CN. Hồng Anh, bà mẹ khi cho con bú cần ăn uống đầy đủ, đủ chất sẽ có đủ sữa và chất lượng sữa tốt cho con bú. Nếu chế độ ăn của bà mẹ quá nghèo nàn, không đủ chất dinh dưỡng, bổ sung thêm bà mẹ sẽ phải sử dụng chất dinh dưỡng dự trữ trong các mô của cơ thể để tạo sữa, bà mẹ sẽ bị suy dinh dưỡng. Vì vậy, bà mẹ cần được ăn, uống nhiều hơn bình thường, không kiêng khem quá mức. Nên hạn chế ăn các thức ăn có nhiều gia vị, không uống rượu, cà phê và hút thuốc lá.
Chú ý ăn thêm các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng như tôm, cua, cá, trứng, sữa, thịt, đậu đỗ, lạc vừng, rau xanh và quả chín. Nên ăn nhiều bữa và ăn nhiều hơn bình thường. Uống nhiều nước (1,5 đến 2 lít/ ngày) vì cơ thể cần nhiều nước cho sự tiết sữa. Không nên ăn các loại thức ăn nhiều gia vị (ớt, tiêu, hành tỏi).
Chỉ dùng thuốc khi có sự hướng dẫn của cán bộ y tế, không được tự động dùng thuốc vì có thể nguy hại cho con và có thể làm cạn sữa. Sau 6 tháng tránh thai tự nhiên, người phụ nữ cọ thể sử dụng một biện pháp tránh thai, nhưng không nên sử dụng thuốc tránh thai có Estrogen. Thay vào đó, có thể sử dụng thuốc có Progestogen vì không ảnh hưởng tới quá trình tạo sữa.
Hồng Sơn