
Trong thời gian qua, mặc dù tình trạng kinh tế xã hội đã được cải thiện trong nhiều năm qua nhưng tỷ lệ bệnh nhân bị sỏi niệu đến viện vẫn còn muộn, kích thước sỏi đã lớn và đã có nhiều biến chứng như nhiễm trùng đường tiểu, thận ứ nước, ứ mủ, vô niệu, suy thận … Vì vậy phẫu thuật mở trong điều trị sỏi niệu quản vẫn còn đóng một vai trò nhất định.
Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa, phẫu thuật mở điều trị sỏi thận và sỏi niệu quản vẫn là phương pháp được áp dụng rộng rãi và có những kết quả nhất định giúp bệnh nhân trở lại sinh hoạt và lao động với cộng đồng.
Từ tháng 1/2008 đến tháng 6/2015, BSCKII. Cao Khả Anh đã tiến hành nghiên cứu “Kết quả phẫu thuật điều trị sỏi thận, sỏi niệu quản”. Nghiên cứu được tiến hành đối với những trường hợp được chẩn đoán sỏi thận, sỏi niệu quản được tiến hành phẫu thuật lấy sỏi tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa. Đánh giá kết quả phẫu thuật theo tiêu chuẩn của Trần Văn Sáng, kết quả tốt nhất khi mổ an toàn, lấy được sỏi, không có biến chứng; kết quả trung bình là mổ an toàn, lấy được sỏi, có biến chứng nhưng được điều trị tốt trong thời gian hậu phẫu; kết quả xấu: sót sỏi, có biến chứng phải điều trị bổ sung bằng thủ thuật hoặc mổ lại.
Theo báo cáo của BS. Cao Khả Anh, có 64 trường hợp đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, độ tuổi trung bình là 48,72; trường hợp tuổi thấp nhất là 27, tuổi cao nhất là 76. Có 19 trường hợp sỏi thận, 45 trường hợp sỏi niệu quản. Tỷ lệ nữ giới mắc sỏi thận cao gấp gần 3 lần so với nam giới; còn đối với sỏi niệu quản tỷ lệ nam/nữ gần tương đương nhau.
Tỷ lệ mắc sỏi thận, sỏi niệu quản, bệnh nhân ở vùng đồng bằng chiếm đến 70,3% cao gấp nhiều lần so với vùng biển, ven biển và miền núi. Nghề nghiệp lao động chân tay mắc bệnh sỏi thận, sỏi niệu quản có tỷ lệ 75% cao hơn so với lao động trí óc. Có 62 trường hợp (96,8%) mắc bệnh sỏi thận, sỏi niệu quản là người dân tộc Kinh. Đối với tình trạng bệnh lý kèm theo, không có bệnh kèm chiếm tỷ lệ 64%; có bệnh huyết áp kèm theo gần 30%; nghiên cứu không ghi nhận trường hợp nào mắc bệnh tim mạch.
Về thời gian mắc bệnh, đối với sỏi niệu 1 – 2 năm chiếm gần 50%; dưới 1 năm có tỷ lệ 39%. Theo phân loại tình trạng bệnh nhân tiêu chuẩn của Hiệp Hội Gây mê Hoa Kỳ (ASA), ASA 2 chiếm tỷ lệ nhiều nhất gần 60%; còn ASA 1 chiếm tỷ lệ 26% cao gấp đôi so với ASA 3.
Đối với triệu chứng lâm sàng, kết quả nghiên cứu cho thấy triệu chứng đau thắt lưng ở bệnh nhân sỏi thận chiếm tỷ lệ 25%, sỏi niệu quản chiếm tỷ lệ 31%, đau quặn thận ở bệnh nhân sỏi thận chiếm tỷ lệ gần 5%, sỏi niệu quản chiếm tỷ lệ gần 40%, đái ra mủ chiếm tỷ lệ 14,1%, thận lớn 11%, rối loạn tiểu tiện chiếm tỷ lệ 26%, đái ra máu chủ yếu sỏi niệu quản 11%. Ứ nước độ I chiếm tỷ lệ 40,6%, độ II chiếm tỷ lệ 36%, độ III chiếm tỷ lệ 23%. Sỏi thận bể thận chiếm tỷ lệ 30%, sỏi niệu quản dưới chiếm tỷ lệ 28%. Chỉ số bạch cầu < 10.000 chiếm tỷ lệ 56% và bạch cầu > 10.000 chiếm tỷ lệ 43,7%.
BS. Cao Khả Anh đã chia sẻ về kết quả phẫu thuật, đường mổ thắt lưng được sử dụng nhiều nhất tỷ lệ 64% cho cả sỏi thận và sỏi niệu quản, đường Gibson chiếm tỷ lệ 22%.
Tỷ lệ mở niệu quản lấy sỏi là gần 60%, tiếp đến là mở bể thận lấy sỏi chiếm tỷ lệ 17%, mở nhu mô lấy sỏi chiếm tỷ lệ 12,5%, mở bể thận phối hợp nhu mô lấy sỏi chiếm tỷ lệ gần 5%, tán sỏi chiếm tỷ lệ 4,6%, cắt thận chiếm tỷ lệ 1,56%.
Đối với tình trạng có dịch lợn cợn mủ chiếm tỷ lệ cao 55%, trong đó sỏi niệu quản chiếm 37,50%, dịch trong chủ yếu ở sỏi niệu quản chiếm tỷ lệ 26,5%, dịch mủ do sỏi thận chiếm tỷ lệ 7,8%, sỏi niệu quản chiếm tỷ lệ 12,50%.
Sỏi vị trí đoạn bụng chiếm tỷ lệ cao nhất 37,50%, sỏi ở bể thận và sỏi đoạn sát bàng quang chiếm tỷ lệ 20,31%, sỏi đài thận chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,13%. Sỏi 1 viên chiếm tỷ lệ cao nhất 84,33%, trong đó sỏi niệu quản chiếm 68,75%. Sỏi có đường kính < 10mm chiếm tỷ lệ 34,38% trong đó sỏi niệu quản chiếm 32,81%, sỏi thận chiếm 1,56% và sỏi có kích thước 10 – 15mm, gặp ở niệu quản chiếm tỷ lệ 34,38%, sỏi thận là 12,50%, sỏi >15mm gặp ở thận chiếm tỷ lệ 15,63% và ở niệu quản là 3,13%.
Phương pháp dẫn lưu thận niệu quản chủ yếu là sond double J chiếm 73,44%, dẫn lưu bể thận nhu mô qua da chiếm tỷ lệ 14,06%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến chứng sau mổ gồm nhiễm trùng vết mổ gặp ở mổ sỏi thận chiếm tỷ lệ 3,13%, sỏi niệu quản 1,56%, nhiễm trùng vết mổ có dò nước tiểu chiếm 1,56%. Thời gian phẫu thuật trung bình 57,66 + 11,91 phút. Thời gian phẫu thuật ngắn nhất 40 phút và dài nhất 80 phút. Thời gian nằm hậu phẫu trung bình 8,52 + 1,83 ngày. Thời gian nằm hậu phẫu ngắn nhất 6 ngày và dài nhất 14 ngày. Thời gian trung tiện < 3 ngày ở bệnh nhân mổ sỏi thận chiếm tỷ lệ 3%, sỏi niệu quản chiếm tỷ lệ 51,5%, thời gian trung tiện > 3 ngày ở bệnh nhân mổ sỏi thận chiếm tỷ lệ 26,5%, sỏi niệu quản chiếm tỷ lệ 18,7%. Bệnh nhân mổ sỏi niệu cho uống ngay sau mổ chiếm tỷ lệ 93,7%. Tỷ lệ sử dụng 2 kháng sinh chiếm 68,7%, 3 kháng sinh chỉ chiếm 10,9%. Trong 64 trường hợp mổ sỏi niệu, kết quả tốt chiếm tỷ lệ 93,7%, trung bình chiếm tỷ lệ 4,6%, xấu chỉ có 1 trường hợp sỏi thận chiếm tỷ lệ 1,5%.
BS. Cao Khả Anh đã có khuyến nghị bệnh viện cần đầu tư thêm trang thiết bị đầy đủ để chẩn đoán giải quyết tốt những trường hợp đến bệnh viện đã có nhiều biến chứng, qua đó hạn chế được những tai biến sau phẫu thuật, đồng thời công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cần được tăng cường để người dân hiểu rõ triệu chứng bệnh đến khám điều trị tại cơ sở y tế sớm.
Hữu Cao