[Đăng ngày: 21/03/2016]
Năm 1964 tại Mỹ, Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) được mô tả lần đầu tiên, đó là tình trạng tắc nghẽn đường thở đến từ từ và không có khả năng phục hồi hòan toàn.
Các quốc gia ở Châu Âu sử dụng danh từ “viêm phế quản mạn tính” và khí phế thũng. Năm 1992 thuật ngữ COPD đã chính thức được áp dụng trên toàn thế giới. Nó được dùng trong phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 9 (ICD9 mã 490-496) và lần thứ 10 (ICD 10 mã J42-46). Năm 1995, Hội lồng ngực Mỹ (ATS), Hội hô hấp Châu Âu (ERS) đưa ra các hướng dẫn về chẩn đoán, điều trị và được áp dụng trên toàn thế giới. Năm 1997 WHO đã khởi xướng chương trình khởi động toàn cầu về phòng chống bệnh phổi tắt nghẽn mãn tính viết tắt là GOLD.
Năm 2001 GOLD đưa ra bản khuyến cáo về quản lý, điều trị COPD đầu tiên và lấy ngày 15/11 hàng năm làm ngày COPD toàn cầu. Bảng hướng dẫn này được cập nhật hàng năm và cứ 5 năm một lần lại có những sửa đổi căn bản.
GOLD 2011 đã định nghĩa COPD nhấn mạnh vai trò của các bệnh lý đi kèm “COPD là một căn bệnh phổ biến có thể phòng ngừa và điều trị được, đặc trưng bởi sự giới hạn luồng khí thường xuyên và nặng dần, thường kèm theo một đáp ứng viêm bất thường của phổi đối với các hạt độc hoặc khí độc. Đợt cấp COPD và các bệnh lý đi kèm góp phần vào độ nặng của từng người bệnh.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), COPD đứng hàng thứ 12 trong số các bệnh nặng, dự kiến sẽ đứng hàng thứ 5 vào năm 2020. Năm 1997 có khoảng 300 triệu người trên thế giới mắc COPD. Năm 1990 tỷ lệ gây tử vong do COPD đứng thứ 6, hiện nay đứng thứ 4 và dự kiến đến năm 2020 sẽ vươn lên đứng thứ 3 trong 10 bênh chính gây tử vong trên toàn thế giới.
Để chẩn đoán COPD, đối với triệu chứng lâm sàng người bệnh có thể có một trong các dấu hiệu sau: Trong tiền sử và/hoặc hiện tại có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ: hút thuốc lá, thuốc lào, tiếp xúc với khói bụi và hóa chất, khói bếp và khói của nhiên liệu đốt. Ho khạc đờm 3 tháng trong một năm và liên tiếp trong 2 năm trở lên. Triệu chứng khó thở: tiến triển nặng dần theo thời gian và khó thở liên tục. Bệnh nhân “phải gắng sức để thở”, “thở nặng”, “cảm giác thiếu không khí”, hoặc “thở hổn hển”. Khó thở tăng lên khi gắng sức, nhiễm trùng đường hô hấp. Khám lâm sàng: rì rào phế nang giảm là dấu hiệu thường gặp nhất, các dấu hiệu khác có thể thấy bao gồm: lồng ngực hình thùng, gõ vang trống, ran rít, ran gáy, ran ẩm, ran nổ. Ở giai đoạn muộn có thể thấy các dấu hiệu của suy tim phải (gan to, tĩnh mạch cổ nổi, phù 2 chân). Đối với cận lâm sàng cần thực hiện: là đo chức năng hô hấp: Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ nặng COPD. Biểu hiện rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn sau nghiệm pháp giãn phế quản (400μg Salbutamol hoặc 80 μg ipratropium hoặc 400μg salbutamol hoặc 80μg ipratropium khí dung hoặc phun hít với buồng đệm): chỉ số Gaensler (FEV 1/FVC) <70%. X quang phổi thường ít có giá trị chẩn đoán. Có thể thấy hình ảnh giãn phế nang: trường hợp phổi quá sáng, cơ hoành 2 bên hạ thấp, có thể thấy hình bậc thang, khoang liên sườn giãn rộng, các bóng khí. Thấy động mạch thùy dưới phổi phải có đường kính >16mm khi có tâm phế mạn. Ngoài ra X quang phổi cho phép loại trừ các bệnh phổi khác như u phổi, giãn phế quản, lao phổi. Điện tâm đồ: ở các giai đoạn muộn có thể thấy các dấu hiệu của tăng áp động mạch phổi và suy tim phải: sóng P cao (>2,5mm) nhọn đối xứng, trục phải (>110o), dày thất phải (R/S ở V6<1).
 So sánh giữa COPD và hen phế quản chúng ta thấy có những điểm khác nhau, cụ thể đối với hen phế quản bình thường bệnh bắt đầu khi tuổi còn nhỏ, các triệu chứng biến đổi từng ngày, tiền sử dị ứng thời tiết, dị ứng thức ăn, viêm khớp và/hoặc eczema, chàm, gia đình có người cùng huyết thống mắc hen, các triệu chứng ho, khó thở thường xuất hiện vào ban đêm/sáng sớm, khám ngoài cơn hen hoàn toàn bình thường, rối loạn thông khí tắc nghẽn hồi phục hoàn toàn, hiếm khi có biến chứng tâm phế mạn hoặc suy hô hấp mạn.
Trong khi đó đối với COPD bệnh thường xuất hiện ở những người ≥40 tuổi, các triệu chứng tiến triển nặng dần, tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào nhiều năm, khó thở lúc đầu khi gắng sức sau khó thở liên tục cả ngày, luôn có triệu chứng khi khám phổi, rối loạn thông khí tắc nghẽn không phục hồi hoàn toàn, biến chứng tâm phế mạn hoặc suy hô hấp mạn thường xảy ra ở giai đoạn cuối.
Huy Hoàng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 128

Số lượt truy cập: 9369518

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang