Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (Benign Prostatic Hypertrophy – BPH) là bệnh thường gặp ở nam giới cao tuổi. Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (TTL) có tỉ lệ mắc tăng dần theo lứa tuổi, bệnh tiến triển chậm. Hiện nay tỉ lệ mắc bệnh này đứng sau bệnh lý mạch vành, tăng mỡ máu, tăng huyết áp và đái tháo đường.
Theo các chuyên gia niệu học, điểm số triệu chứng tuyến tiền liệt (IPSS – International Prostate Symptom Score) được dùng để đánh giá mức độ triệu chứng. Các chuyên gia đưa ra cách chọn phương pháp điều trị với tăng sản lành tính tuyến tiền liệt là: nếu điểm IPSS < 7 theo dõi chờ đợi; Điểm QoL nhỏ hơn 3 không có yếu tố nguy cơ. Nếu điểm IPSS > 7; điểm QoL > 3 có yếu tố nguy cơ, cần phải can thiệp y tế.
Các chuyên gia đưa ra các yếu tố nguy cơ gồm: tuyến tiền liệt lớn hơn 31cm3, xét nghiệm PSA > 1,6ng/ml; nước tiểu tồn dư > 39ml; Tốc độ dòng tiểu tối đa <10,6ml/giây. Can thiệp y tế có thể chọn điều trị bằng thuốc, can thiệp phẫu thuật. Có nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy thể tích tuyến tiền liệt có mối tương quan thuận với tổng điểm IPSS. Thể tích tuyến tiền liệt được xác định qua 3 số đo: chiều cao, chiều ngang, chiều trước sau của tuyến tiền liệt.

Từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014 nhóm tác giả nghiên cứu Vũ Sơn cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Nghiên cứu mối liên quan giữa các số đo thể tích tuyến tiền liệt và mức độ của điểm triệu chứng tuyến tiền liệt”. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan số đo chiều cao, chiều rộng, chiều trước sau của tuyến tiền liệt với điểm số triệu chứng tuyến tiền liệt. Đối tượng nghiên cứu là nam giới từ 50 tuổi trở lên, đến khám tại phòng khám tiết niệu Bệnh viện Đa khoa Thái Bình vì có triệu chứng đường tiểu dưới. Tác giả nghiên cứu siêu âm ghi đủ 3 số đo của tuyến tiền liệt, phỏng vấn được thang điểm IPSS. Đối với những trường hợp biểu hiện nghi ngờ ung thư tuyến tiền liệt, viêm tuyến tiền liệt, tiền sử có mổ tuyến tiền liệt không chọn tham gia nghiên cứu.
BS Vũ Sơn báo cáo, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 73; người thấp nhất 50 tuổi, cao nhất là 97 tuổi. Tất cả có 85 đối tượng nghiên cứu; nhóm 70-80 tuổi chiếm tỉ lệ nhiều nhất với 38,1%. Lý do đến phòng khám chủ yếu là đái khó có tỉ lệ 62%. Có 2 trường hợp đến vì lý do đái dắt. Có 49 trường hợp (36,6%) đến khám vì bí đái cấp tính hoàn toàn, được nhập viện xử trí đặt thông dẫn lưu nước tiểu.
Đối với kết quả đo chiều cao, chiều ngang, chiều trước sau của tuyến tiền liệt qua siêu âm đường thành bụng, tính thể tích tuyến tiền liệt; kết quả thể tích trung bình là 42,8cm3; thể tích tuyến tiền liệt nhỏ nhất là 16,5cm3; cao nhất là 121cm3. Có 72 trường hợp (53,7%) có thể tích tuyến tiền liệt từ 30-50cm3.
BS Vũ Sơn cho biết, kết quả siêu âm đo 3 chiều của tuyến tiền liệt và khai thác điểm IPSS của đối tượng nghiên cứu; điểm IPSS trung bình là 14,7; trường hợp thấp nhất là 11,7 điểm; cao nhất là 35 điểm. Tuổi đời tăng ảnh hưởng không rõ ràng đối với sự tăng lên của điểm số IPSS (p>0,05).
Tác giả nghiên cứu nước ngoài đã có kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa tuổi và thể tích tuyến tiền liệt; mỗi năm thể tích của tuyến tiền liệt tăng 70 mg; nhưng không tìm thấy mối liên quan giữa tuổi đời và triệu chứng tắc nghẽn đường tiểu dưới. BS Vũ Sơn báo cáo, thể tích của tuyến tiền liệt đối tượng nghiên cứu trung bình là 40cm3; thấp nhất là 16,5cm3; cao nhất là 100cm3. Thể tích của tuyến tiền liệt càng tăng thì tổng điểm IPSS càng tăng. Về đo chiều cao của tuyến tiền liệt; chiều cao trung bình của tuyến tiền liệt đối tượng nghiên cứu là 39,9mm; trường hợp thấp nhất là 35mm; lớn nhất là 70,5mm. Chiều cao của tuyến tiền liệt càng tăng thì tổng điểm IPSS càng tăng (p<0,05).
Về chiều ngang của tuyến tiền liệt ổn định so với chiều cao ở độ tuổi đối tượng nghiên cứu từ 50-70 tuổi. Trong nghiên cứu chiều ngang trung bình đối tượng nghiên cứu là 45,6mm; thấp nhất là 23mm; cao nhất là 64mm. Chiều trước sau của tuyến tiền liệt; trung bình là 40,3mm; ca thấp nhất là 28,5mm; cao nhất là 59mm. Chiều trước sau tuyến tiền liệt càng tăng thì tổng điểm IPSS càng tăng (p<0,05). Tác giả nghiên cứu lưu ý khi đo kích thước tuyến tiền liệt cần đánh giá mức độ tăng lên của chiều cao và chiều trước sau của tuyến tiền liệt để giúp có tiên lượng bệnh.
Tác giả nghiên cứu kết luận, số đo chiều trước sau, chiều cao và thể tích của tuyến tiền liệt có mối tương quan thuận chặt chẽ với tổng điểm IPSS (p<0,05). Số đo chiều ngang tuyến tiền liệt và tuổi đời ảnh hưởng không rõ ràng đến tổng điểm IPSS (p<0,05).
Trần Mai