Theo báo cáo của bệnh viện phụ sản Trung ương, ở Việt Nam kết quả điều tra gần đây ghi nhận tỷ lệ vô sinh là 7,7% trong các cặp vợ chồng ở độ tuổi sinh đẻ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tần suất vô sinh nam giới thay đổi từ 20-60%. Những bệnh nhân vô sinh là nam giới có 52% có ít nhất một thông số bất thường trong tinh dịch. Như vậy, tỷ lệ nam giới có bất thường về tinh dịch chiếm tỷ lệ khá lớn trong số các nguyên nhân vô sinh. Các chuyên gia hỗ trợ sinh sản cho biết, điều trị vô sinh nam do bất thường tinh dịch hiện nay gồm có phác đồ nội khoa, ngoại khoa và các phương pháp hỗ trợ sinh sản tùy vào nguyên nhân. Đối với những nam giới có bất thường tinh trùng vừa hoặc nhẹ thì thụ tinh nhân tạo là phương pháp hỗ trợ sinh sản được chỉ định trước tiên.

Các bác sĩ hỗ trợ sinh sản cho rằng thụ tinh nhân tạo (IUI) là một phương pháp tương đối đơn giản và ít nguy hiểm, gần với thụ tinh sinh lý nhất. Tuy nhiên, kết quả các nghiên cứu về hiệu quả thụ tinh nhân tạo ở những bệnh nhân vô sinh nam thường có kết quả thấp hơn so với các nguyên nhân khác. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của thụ tinh nhân tạo bao gồm tuổi vợ, tuổi chồng, dự trữ buồng trứng, các thông số tinh dịch, thời gian vô sinh và nguyên nhân vô sinh; các kỹ thuật lọc rửa tinh trùng. Các thông số của tinh dịch được phân tích để tiên lượng thành công của IUI gồm có mật độ tinh trùng, khả năng di động của tinh trùng, hình thái tinh trùng, tổng số tinh trùng di động tiến tới. Cho đến nay, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về hiệu quả của thụ tinh nhân tạo, nhưng ít nghiên cứu đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của thụ tinh nhân tạo trên các bệnh nhân có bất thường về tinh dịch.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hà cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội, bệnh viện Phụ sản Trung ương thực hiện nghiên cứu “Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của thụ tinh nhân tạo trên những mẫu tinh dịch bất thường”. Đối tượng nghiên cứu có tinh dịch đồ bất thường theo tiêu chuẩn WHO 2010. Tác giả nghiên cứu báo cáo, cặp vợ chồng vô sinh có tinh dịch đồ có ít nhất một trong những thông số sau: mật độ tinh trùng nhỏ hơn 15.106/ml; số lượng tinh trùng dưới 39 triệu; tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới dưới 32%; tỷ lệ tinh trùng di động dưới 40%; tỷ lệ tinh trùng hình thái bình thường dưới 4%; tỷ lệ tinh trùng sống dưới 58%; thể tích tinh dịch dưới 1,5ml. Tác giả nghiên cứu mô tả, người vợ được dùng thuốc kích thích buồng trứng hoặc theo dõi nang trứng theo chu kỳ tự nhiên. Mẫu tinh trùng được lọc rửa bằng phương pháp thang nồng độ, sau lọc rửa với thể tích cuối cùng 0,3-0,4ml được hút vào Catheter. Nhẹ nhàng đưa Catheter qua ống cổ tử cung để vào buồng tử cung, bơm từ từ và nhẹ nhàng vào buồng tử cung. Các thông số tinh dịch được đánh giá trước và sau lọc rửa. Xét nghiệm bêta HCG sau 2 tuần IUI, nếu dương tính là có thai sinh hóa, siêu âm đầu dò âm đạo sau 4 tuần IUI, nếu có túi thai là có thai lâm sàng.
BS Hà báo cáo, 209 cặp vợ chồng đã thực hiện 264 chu kỳ IUI, có 41 ca có thai sinh hóa (15,5%); tỷ lệ có thai sinh hóa trên số cặp vợ chồng đạt là 19,6%. Có 39 ca có thai lâm sàng, đạt tỷ lệ 14,8% trên chu kỳ và tỷ lệ cộng dồn là 18,7%. Có 2 ca có thai sinh hóa nhưng siêu âm lúc 4 tuần không có túi phôi. Trong 39 ca có thai lâm sàng, có 2 ca bị sảy lúc 8 tuần.
BS Hà phân tích, khi so sánh tỷ lệ có thai theo nguyên nhân, các nghiên cứu đều ghi nhận tính hiệu quả của thụ tinh nhân tạo trên vô sinh nam thấp hơn so với các nguyên nhân vô sinh khác. Cụ thể như nghiên cứu ở nước ngoài, tỷ lệ có thai sau IUI do yếu tố thiểu tinh hoặc nhược tinh đạt 22%, trong khi đối với nhóm bất thường yếu tố chất nhày cổ tử cung tỷ lệ có thai đạt gần 39%.
Yếu tố tuổi của chồng và vợ có ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của IUI. Kết quả nghiên cứu có sự suy giảm đáng kể về tỷ lệ có thai ở nhóm bệnh nhân nam trên 40 tuổi và nhóm bệnh nhân nữ trên 35 tuổi. Tuổi nam giới tăng lên sẽ ảnh hưởng làm giảm tỷ lệ có thai và gia tăng tỷ lệ sảy thai tự nhiên có ý nghĩa thống kê. Sau 35 tuổi, phụ nữ gặp nguy cơ rối loạn thụ thai và gia tăng nguy cơ sảy thai. Trong nghiên cứu 2 ca sảy thai tuần thai thứ 4, thứ 6 đều có tuổi người vợ trên 35 tuổi.
BS Hà cho biết, tỷ lệ có thai nhóm nhược tinh là 17,5%; nhóm quái tinh là 13,6%; nhóm bất thường phối hợp nhược-quái tinh là 13%. Tác giả lưu ý mức độ bất thường của tinh dịch đồ ảnh hưởng tới tỷ lệ thành công của phương pháp IUI. Số lượng tinh trùng di động là yếu tố ảnh hưởng đến kết quả có thai rõ nhất. Kết quả trong nghiên cứu, số lượng tinh trùng di động tiến tới sau lọc rửa hơn 7 triệu tăng đáng kể cơ hội có thai. Có 1 trường hợp, số lượng tinh trùng di động tiến tới sau lọc rửa là 0,48 triệu có thai. Nhiều nghiên cứu thế giới đưa ra ngưỡng có thai phải là 2 triệu tinh trùng tiến tới (dao động từ 0,3 – 2 triệu). Tỷ lệ hình thái tinh trùng trước lọc rửa bình thường là tăng cơ hội có thai 1,5 lần so với nhóm bất thường.
Nghi Anh