Phụ nữ mang song thai là sự phát triển đồng thời cả hai thai trong buồng tử cung. Mang song thai không phải là bệnh lý nhưng là thai nghén có nguy cơ cao, có thể gây nhiều hậu quả không tốt đến sức khỏe cho mẹ và thai trong cả quá trình mang thai cũng như sinh đẻ.

Theo các bác sĩ phụ sản, mặc dù có những cải tiến trong chăm sóc trẻ sơ sinh và chăm sóc sản khoa, tỉ lệ mang thai sinh đôi vẫn có rủi ro cao cho cả thai phụ lẫn trẻ sơ sinh. Tùy theo bác sĩ việc xử trí đẻ song thai có những quan điểm khác nhau. Thời gian chuyển dạ trong song thai thường kéo dài hơn bình thường và hay có nhiều biến cố đối với trẻ, đặc biệt là với thai thứ hai. Có những biến cố xảy ra bất thường không có triệu chứng báo trước khi đẻ thai thứ hai như ngôi bất thường, sa dây rốn, cơn co tử cung rối loạn. Để đảm bảo an toàn tính mạng cho cả mẹ và thai nhi, nhằm giảm tối đa các biến cố xảy ra trước, trong và sau khi sinh các bác sĩ phải cân nhắc kỹ để chọn được phương pháp xử trí an toàn. Thực tế tỉ lệ mổ lấy thai trong cuộc đẻ song thai ngày càng tăng vì lý do sản khoa cũng như lý do xã hội.
Từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Vũ Văn Du cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện Phụ sản Trung ương tiến hành nghiên cứu hồi cứu mô tả báo cáo đề tài “Một số yếu tố liên quan đến xử trí song thai đủ tháng chuyển dạ đẻ”. Đối tượng nghiên cứu là những thai phụ đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Các thai phụ được chẩn đoán là song thai, tuổi thai từ 37 tuần trở lên theo kỳ kinh cuối cùng. Tiêu chuẩn loại trừ đối với những thai phụ đẻ 1 thai hoặc hơn song thai; song thai cả 2 thai chết lưu hoặc 1 thai chết lưu. Cỡ mẫu chọn được 367 sản phụ song thai.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, kết quả nghiên cứu tuổi đối tượng nghiên cứu được chia làm 5 nhóm. Phần lớn sản phụ mang song thai đang trong độ tuổi 25-29 (chiếm 43,3%). Có 43,3% đối tượng nghiên cứu là cán bộ nhân viên; 37% ngành nghề khác; có 9,8% làm nông và nội trợ. Tỉ lệ sản phụ song thai sống ở thành thị và nông thôn tương đối xấp xỉ nhau (46,9% và 53,1%).
BS Du cho biết, ở nhóm sản phụ mổ lấy thai, một nửa số trường hợp là cán bộ viên chức chiếm 45,5%; tỉ lệ này ở nhóm đẻ thường là 13,6%. Tác giả lý giải nhóm lao động văn phòng có thể ít vận động cơ thể, lo lắng khi đẻ song thai, thường đề nghị được mổ lấy thai, từ đó ảnh hưởng đến tiến độ xử trí của cán bộ y tế.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, những sản phụ có thai tự nhiên, tỉ lệ đẻ thường cao hơn đẻ mổ; tỉ lệ mổ lấy thai nhóm có thai bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm và IUI cao hơn nhóm sản phụ có thai tự nhiên. Đối với sản phụ có thai nhờ các biện pháp hỗ trợ sinh sản các bác sĩ thường cân nhắc chỉ định mổ lấy thai nhiều hơn hẳn so với để đẻ thường; trong khi tỉ lệ đẻ thường ở sản phụ mang thai tự nhiên cao hơn tỉ lệ đẻ mổ. Lý do có thể do sản phụ hiếm muộn con thường chịu áp lực lớn trong quá trình mang thai và sinh nở, vì vậy họ thường chọn phương pháp đẻ mổ để cảm thấy “yên tâm” và “an toàn” hơn. Hơn nữa, những trường hợp mang thai nhờ các biện pháp điều trị vô sinh cũng là một cân nhắc khi đưa ra chỉ định mổ của bác sĩ.
Phân tích mối liên quan giữa tình trạng ối và phương pháp đẻ song thai, BS Du báo cáo phần lớn bệnh nhân ở nhóm đẻ thường và mổ lấy thai đều vào viện với tình trạng ối còn. Lý giải do hiện nay công tác chăm sóc và quản lý thai nghén ngày càng tiến bộ, các sản phụ được tư vấn kỹ lưỡng trong thời kỳ thai nghén về những nguy cơ của đẻ song thai nên đa phần sản phụ mang song thai thường vào viện rất sớm khi các triệu chứng của chuyển dạ mới chỉ bắt đầu.
BS Du cho biết kết quả nghiên cứu, trọng lượng trung bình của thai đẻ mổ cao hơn so với thai đẻ thường. Lý giải tác giả cho rằng có thể do thai sinh đôi có trọng lượng và kích thích lớn thường gây khó đẻ bằng đường âm đạo, vì vậy bác sĩ cho chỉ định mổ lấy thai thay vì đẻ thường.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, các yếu tố liên quan đến xử trí song thai đủ tháng chuyển dạ đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là nghề nghiệp của sản phụ; phương pháp có thai; tình trạng ối và trọng lượng trung bình của thai nhi.
Anh Duy