Phụ nữ dân tộc thiểu số được xem là cộng đồng chịu nhiều thiệt thòi trong đời sống xã hội. Nghiên cứu về phụ nữ dân tộc thiểu số sẽ góp phần làm giảm thiểu sự kỳ thị, cải thiện sự tiếp cận các dịch vụ xã hội, thay đổi nhận thức và hành vi về các thói quen ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần, hướng tới cải thiện chất lượng cuộc sống của họ.
Các chuyên gia nghiên cứu cộng đồng thường quan tâm nghiên cứu hành vi sức khỏe, hút thuốc lá và uống rượu bia là hai hành vi phổ biến ở nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Việc hút thuốc lá và uống rượu bia sẽ là yếu tố nguy cơ cho bản thân người sử dụng và con của họ.
Từ tháng 1/2017 đến tháng 12/2017, TS.Lê Tấn Phùng cùng cộng sự Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa thực hiện nghiên cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe với hành vi hút thuốc lá và uống rượu bia của phụ nữ 15-49 tuổi, người dân tộc Raglai tại huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa”.

Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ Raglai tuổi từ đủ 15 đến tròn 49 tuổi, hiện đang sống tại hai huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh thuộc tỉnh Khánh Hòa tại thời điểm nghiên cứu; tự nguyện tham gia nghiên cứu. Đối với nữ từ 15 đến dưới 18 tuổi, được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý cho tham gia nghiên cứu, có đủ năng lực hành vi dân sự. Tiêu chuẩn loại trừ là những người đang mắc bệnh tâm thần, thần kinh làm giảm hoặc mất chức năng giao tiếp thông thường; bị các dị tật bẩm sinh ảnh hưởng đến đo chiều cao như cong vẹo cột sống, dị dạng lồng ngực…
Số liệu được thu thập qua bảng hỏi có cấu trúc 3 phần gồm thông tin chung, đặc điểm dân số-xã hội; thang đo SF-12; thang đo Fagerstrom và thang đo AUDIT. Ngoài ra, các chỉ số về chiều cao, cân nặng, huyết áp tâm thu và tâm trương, tần số mạch cũng được thu thập khi đối tượng đến tham dự phỏng vấn.
Theo TS.Phùng, có 613 đối tượng nghiên cứu được chọn tham gia nghiên cứu; trong đó huyện Khánh Sơn có 350 người chiếm tỷ lệ 57,1%; huyện Khánh Vĩnh có 263 người, chiếm tỷ lệ 42,9%. Nghề nghiệp nông dân chiếm 82,2%; gần ¼ đối tượng nghiên cứu không đi học; có 38,5% đối tượng nghiên cứu có theo một tôn giáo; gần 80% đối tượng nghiên cứu đã có chồng.
TS.Phùng có nhận xét, đối tượng nghiên cứu có thực trạng sức khỏe thể chất và tâm thần còn ở mức dưới trung bình. Điểm trung bình (độ lệch chuẩn) điều tra được qua bộ công cụ SF-12 là 47,26 (7,57) cho PCS (đánh giá sức khỏe về thể chất) và 44,07 (8,61) cho MCS (đánh giá sức khỏe về tâm thần). Trong đó, sức khỏe thể chất của phụ nữ Raglai ở Khánh Sơn cao hơn Khánh Vĩnh, nhưng sức khỏe tâm thần của họ thấp hơn Khánh Vĩnh và biến thiên rộng hơn. Sự khác nhau về sức khỏe thể chất và tâm thần của phụ nữ Raglai 2 huyện là có ý nghĩa thống kê.
Gần 20% phụ nữ Raglai từ 25-19 tuổi tại hai huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh có BMI được xếp là loại gầy. Tuy không có sự khác biệt về phân loại theo BMI giữa hai huyện, nhưng chỉ số BMI trung bình của phụ nữ huyện Khánh Sơn cao hơn Khánh Vĩnh có ý nghĩa (21,2 so với 20,2) với trung bình cân nặng của phụ nữ Khánh Sơn cao hơn Khánh Vĩnh (46,3kg so với 44,6kg). Sự khác biệt này phản ánh đúng thực tế điểm trung bình PCS giữa 2 huyện.
Tỷ lệ hiện đang hút thuốc lá của phụ nữ Raglai hai huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh là 16,6% (95% khoảng tin cậy: 13,8%-19,9%), giảm đáng kể so với điều tra các năm 2000 (70%) và 2003 (55%). Tuy nhiên, đây vẫn còn là tỷ lệ khá cao so với phụ nữ Việt Nam nói chung, chỉ khoảng 1,4%. Theo thang đo Fagerstrom đánh giá mức độ phụ thuộc nicotine thì 61,8% phụ nữ Raglai có mức phụ thuộc nicotine ở mức nhẹ và trung bình. Sự khác biệt về tỷ lệ đang hút thuốc giữa hai huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh là không có ý nghĩa. Những phụ nữ Raglai không đi học và không theo tôn giáo nào có tỷ lệ hút thuốc lá cao hơn có ý nghĩa.
Tỷ lệ phụ nữ Raglai uống rượu bia tại hai huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh là 35,7% nhưng ở tần suất thấp: 98% trong số họ uống rượu bia ít hơn 1 lần/tuần. Mức độ nguy cơ của rượu bia của phụ nữ Raglai là thấp ở 96% số phụ nữ có uống rượu bia theo thang đo AUDIT. Tỷ lệ uống rượu bia của phụ nữ Raglai huyện Khánh Sơn cao hơn Khánh Vĩnh. Tương tự như hút thuốc lá, nhóm phụ nữ không đi học và không theo tôn giáo nào có tỷ lệ uống rượu bia cao hơn.
So với những người không hút thuốc lá thì những phụ nữ đang hút thuốc lá có chỉ số BMI thấp hơn 0,99 điểm; có số đo huyết áp tâm thu cao hơn 5,52 mmHg; có số đo huyết áp tâm trương cao hơn 2,69 mmHg, có điểm trung bình PCS thấp hơn 2,83 và có điểm trung bình MCS thấp hơn 1,71. Không có sự khác biệt về các chỉ số sức khỏe giữa những người đã từng hút thuốc lá và nay đã bỏ so với người không hút thuốc lá.
Uống rượu bia ảnh hưởng có ý nghĩa đến chỉ số huyết áp của phụ nữ Raglai 15-49 tuổi tại hai huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh.
Cả hút thuốc lá và uống rượu bia đều có ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ Raglai, nhưng ảnh hưởng mạnh hơn là tình trạng hút thuốc lá. Trong mô hình kết hợp này, hút thuốc lá ảnh hưởng nhiều đến BMI, PCS, MCS còn uống rượu bia ảnh hưởng nhiều đến chỉ số huyết áp.
Anh Huy