Từ tháng 03/2017 đến tháng 10/2017, ThS.Nguyễn Thị Quế Lâm cùng cộng sự Trung tâm Truyền thông GDSK Khánh Hòa thực hiện nghiên cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh ung thư vú ở phụ nữ thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa năm 2017” với 2 mục tiêu: (1) Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh ung thư vú ở phụ nữ thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa năm 2017, (2) Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh ung thư vú ở phụ nữ thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa năm 2017. Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ từ 20-60 tuổi trên địa bàn thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tại thời điểm nghiên cứu; tự nguyện tham gia nghiên cứu.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, có 240 phụ nữ từ 20-60 tuổi tham gia nghiên cứu. Đối với thái độ về phòng chống ung thư vú (UTV), kết quả nghiên cứu cho thấy có 96,2% phụ nữ tham gia nghiên cứu cho rằng UTV điều trị được nếu được phát hiện sớm, 92,5% cho biết tầm soát để phát hiện UTV là hết sức cần thiết. Có 87,1% phụ nữ cho rằng UTV nếu phát hiện sớm, điều trị đúng thì khỏi đến 90%. Có tới 83,5% ĐTNC có thái độ lo sợ nếu bị chẩn đoán UTV, và vẫn còn 26,2% cho rằng UTV là bệnh nan y, phát hiện sớm hay muộn cũng thế thôi. Phụ nữ tham gia nghiên cứu có thái độ tích cực về phòng chống bệnh UTV có tỷ lệ 39,6%.
Về thực hành về phòng chống UTV, kết quả nghiên cứu chỉ có 0,4% phụ nữ có uống rượu bia. Có 1,7% phụ nữ cho rằng thường xuyên ăn thức ăn dạng nướng; 3,8% thường xuyên ăn thịt khô, cá khô. Hơn một nửa phụ nữ có ăn thực phẩm chiên rán (54,2%);
Có 80% phụ nữ trong nghiên cứu có luyện tập thể dục hàng ngày với thời lượng luyện tập phổ biến nhất là từ 30-60 phút/ngày (38,8%).
Có 84,6% ĐTNC cho biết có thực hiện việc tự khám vú; Mức độ tự khám vú hàng ngày của ĐTNC có tỷ lệ là 37,9%. Có 35,8% ĐTNC cho biết có đi siêu âm vú; có 10,4% cho biết có đi chụp nhũ ảnh để phát hiện, sàng lọc UTV. Có 42,9% phụ nữ cho biết đã từng khám lâm sàng chuyên khoa vú ít nhất 01 lần trong đời. Trong số đó, chỉ có 1% định kỳ tháng/lần đi bác sỹ thăm khám và có tới 22,3% khám lâm sàng chuyên khoa vú theo định kỳ hàng năm. Phụ nữ tham gia nghiên cứu có thực hành phòng chống UTV đạt có tỷ lệ 13,8%.
Đối với yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống UTV của phụ nữ thị xã Ninh Hòa, kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ có trình độ học vấn THCS trở xuống có kiến thức không đạt (68,3%) cao hơn nhóm có trình độ học vấn THPT trở lên (31,7%); nhóm có thu nhập dưới 3 triệu có kiến thức không đạt (61,9%) cao hơn nhóm có thu nhập 3 triệu trở lên (38,1%); tuy nhiên, các sự khác biệt nói trên không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Nhóm phụ nữ có trình độ học vấn THCS trở xuống có thái độ không tích cực cao gấp gần 5 lần so với nhóm có trình độ THPT trở lên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Nhóm phụ nữ có thu nhập dưới 3 triệu có thái độ không tích cực cao gấp gần 2 lần so với nhóm có thu nhập từ 3 triệu trở lên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Nhóm phụ nữ có kiến tức đạt có thái độ tích cực cao gấp 2 lần so với nhóm có kiến thức không đạt, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Nhóm phụ nữ có trình độ học vấn THCS trở xuống có thực hành về phòng chống bệnh UTV không đạt cao gấp 2 lần so với nhóm có trình độ THPT trở lên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Tác giả nghiên cứu kiến nghị Trung tâm Y tế các huyện, thị xã, thành phố cần tăng cường thông tin, giáo dục và truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng đến người dân nói chung, đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ về nâng cao kiến thức, thái độ thực hành phòng chống tốt bệnh ung thư vú. Đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ y tế cơ sở về kỹ năng khám, phát hiện sớm các dấu hiệu của UTV. Triển khai chương trình khám sàng lọc UTV trên toàn tỉnh nhằm tầm soát, phát hiện sớm, chẩn đoán và điều trị kịp thời, hiệu quả bệnh UTV.
Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu cũng kiến nghị cần có thêm những nghiên cứu khác đánh giá tỷ lệ UTV trên toàn tỉnh, phân tích sâu hơn một số yếu tố liên quan đến UTV khác mà nghiên cứu này chưa đề cập đến chẳng hạn như: tình trạng thừa cân béo phì, tình trạng mãn kinh, tình trạng hút thuốc lá thụ động….
Huy Hoàng