[Đăng ngày: 08/01/2018]
Theo số liệu năm 2008, mỗi năm Việt Nam có 1,2 triệu ca nạo phá thai; trong đó có tới 20% trường hợp là học sinh, sinh viên. Nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở vị thành niên và thanh niên cũng đang ở mức báo động. Theo đánh giá kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam gần đây (SAVY 2) cho thấy kiến thức, thái độ, hành vi của thanh niên và vị thành niên trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục tuy đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, cần tiếp tục đẩy mạnh các chương trình giáo dục và dịch vụ có liên quan đến sức khỏe sinh sản trong những năm đến theo mục tiêu Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đề ra: “Cải thiện sức khỏe sinh sản của người chưa thành niên và thanh niên: Tăng tỷ lệ điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thân thiện với người chưa thành niên và thanh niên lên 50% tổng số điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản vào năm 2015 và 75% vào năm 2020; Giảm 20% số người chưa thành niên có thai ngoài ý muốn vào năm 2015 và giảm 50% vào năm 2020”.

Từ tháng 3/2017 đến tháng 10/2017, BS.CKII Tôn Thất Toàn cùng cộng sự Trung tâm Truyền thông GDSK Khánh Hòa thực hiện nghiên cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe tình dục của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa”. Đối tượng nghiên cứu là sinh viên hệ chính quy trường Đại học Khánh Hòa năm học 2016-2017, tự nguyện tham gia nghiên cứu.

Theo BS.CKII Tôn Thất Toàn, có 240 đối tượng nghiên cứu được chọn tham gia nghiên cứu. Kiến thức về bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS: đa số ĐTNC trả lời được các bệnh LTQĐTD là HIV/AIDS (98,8%); giang mai (79,2%), lậu (67,9%). ĐTNC nhận biết được triệu chứng là có vết loét ở bộ phận sinh dục (63,8%); chảy mủ từ dương vật/âm đạo có mủ (56,2%). Biện pháp phòng tránh bệnh LTQĐTD là sử dụng BCS khi QHTD (89,2%); không QHTD với gái mại dâm (75%), chung thủy 1 vợ 1 chồng (72,5%). Tuy nhiên vẫn còn 30% ĐTNC không biết được triệu chứng của bệnh, không biết các biện pháp phòng bệnh là 5%. Đa số ĐTNC đều biết rõ 3 đường lây truyền HIV/AIDS; đó là dùng BCS khi QHTD (86,2%), dùng găng tay khi tiếp xúc với máu và dịch của người HIV/AIDS (80,4%); dùng bơm kiêm tiêm riêng (71,8%); vẫn còn một tỷ lệ khá cao ĐTNC hiểu sai cách phòng tránh, cho rằng nên hạn chế tiếp xúc với người nhiễm HIV/AIDS (27,1%). Kết quả cho thấy chỉ khoảng hơn 2/3 số ĐTNC có kiến thức chung đầy đủ về sức khỏe tình dục (62,9%). 

Thái độ về sức khỏe tình dục, có 97,9% cho rằng cung cấp kiến thức về SKTD cho sinh viên là cần thiết; cần chia sẻ với bố mẹ hoặc người thân về thông tin SKTD (84,6%); Có 95% không đồng ý việc nạo phá thai ở lứa tuổi sinh viên. 92,5% cho rằng sinh viên không nên sống thử như vợ chồng với người yêu, và không nên QHTD trước hôn nhân (90%). 

Đối với tiếp cận, trao đổi thông tin về SKTD, có 4,6% ĐTNC thường xuyên nói chuyện SKTD với bố mẹ, vẫn còn tới 31,2% ĐTNC là không bao giờ trao đổi với bố mẹ. Có 56,7% thỉnh thoảng tiếp cận thông tin về SKTD trên báo, tạp chí, ti vi; chỉ có 5,8% ĐTNC có tiếp cận thường xuyên.

Về hành vi, lối sống của ĐTNC, kết quả nghiên cứu cho thấy có 51,2% ĐTNC đã từng xem thoáng qua (không cố ý) phim ảnh có nội dung gợi dục. Tỷ lệ ĐTNC đã có người yêu là 52,5%. Có 6,7% ĐTNC có hành vi sống thử như vợ chồng với người yêu, có 30% sinh viên có QHTD với người khác giới. Tỷ lệ nam giới có QHTD khác giới trước hôn nhân cao hơn nữ giới (55,6%; 24,1%). Tỷ lệ thường xuyên sử dụng biện pháp tránh thai là 61,1% ; chỉ có 9,7% ĐTNC không dung biện pháp tránh thai khi QHTD. BPTT là bao cao su được ĐTNC sử dụng nhiều nhất (80%).

Về cách xử trí khi mắc bệnh LTQĐTD, trong nghiên cứu tỷ lệ ĐTNC đã từng mắc bệnh LTQĐTD là 3,8%. Có 91,7% ĐTNC chọn đến cơ sở nhà nước khám và điều trị nếu mắc bệnh LTQĐTD. 

BS.Toàn cho biết, đối với yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và hành vi về SKTD của ĐTNC ở nhóm trên 19 tuổi có kiến thức về SKTD đạt cao gấp 2 lần so với nhóm dưới 19 tuổi (p < 0,05); nhóm ĐTNC không có hành vi QHTD khác giới trước hôn nhân có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 2 lần so với nhóm có QHTD (p < 0,05). Nữ giới có thái độ về SKTD tích cực cao gấp 4 lần so với nam giới (p < 0,05). 
Liên quan đến hành vi về SKTD của ĐTNC, nữ giới có hành vi về SKTD đạt cao gấp 7 lần so với nam giới (p < 0,001). Nhóm ĐTNC năm 3 có hành vi tích cực hơn nhóm ĐTNC năm 1 &2, (p < 0,05). ĐTNC không có QHTD với người khác giới trước hôn nhân có kiến thức đạt cao gấp 0,5 lần so với nhóm có QHTD,  (p < 0,05); Nhóm ĐTNC có kiến thức đạt có hành vi đạt cao gấp 0,4 lần so với nhóm có kiến thức không đạt, (p < 0,05).

Tác giả nghiên cứu có khuyến nghị các trường Cao đẳng- Đại học trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa cần đưa chương trình SKTD vào chương trình học của các cấp với nội dung phù hợp, từ THCS trở lên nhằm trang bị kiến thức SKTD cho học sinh, sinh viên để các em có kỹ năng thực hành tốt hơn về SKTD, đặc biệt là các vấn đề về tình dục an toàn, tình dục không an toàn, hành vi quan hệ tình dục gây có thai và nạo phá thai, tình dục đồng giới.. Đẩy mạnh truyền thông SKTD một cách đồng bộ và toàn diện cả nội dung lẫn hình thức, nên chú trọng nhiều đến nhóm sinh viên nam. tạo ra nhiều sân chơi bổ ích, lành mạnh để thu hút sinh viên tham gia các hoạt động tập thể nhằm giúp các em phát triển một cách toàn diện. Tổ chức các câu lạc bộ tìm hiểu về SKTD-SKSS. Tăng cường tư vấn trực tiếp nhằm giúp sinh viên hiểu biết sâu về SKTD. Đẩy mạnh các dịch vụ tư vấn, đội ngũ tư vấn viên được đào tạo đúng chuyên môn kỹ năng tư vấn.
Hoa Phượng

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 162

Số lượt truy cập: 9349921

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang