Tật khúc xạ là nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực ở trẻ em. Theo các chuyên gia nhãn khoa, đối với những trẻ đẻ thiếu tháng, nhẹ cân kèm theo có bệnh lý võng mạc ở trẻ đẻ non, tình trạng của tật khúc xạ còn trầm trọng hơn nhiều.

Tật khúc xạ ở trẻ bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non có tỉ lệ mắc cao hơn đối với trẻ đẻ non không bị bệnh hoặc bệnh tự thoái triển. Tình trạng khúc xạ ở trẻ đẻ bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non còn ảnh hưởng bởi phương pháp điều trị, điều trị bằng laser quang đông có tỉ lệ và mức độ cận thị thấp hơn so với phương pháp lạnh đông. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỉ lệ bị cận thị ở những trẻ được điều trị bằng tiêm thuốc Bevacizumab nội nhãn thấp hơn nhiều so với những trẻ được điều trị bằng laser.
Từ tháng 6/2015 đến tháng 3/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Xuân Tịnh cùng cộng sự Bệnh viện Mắt Trung ương tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Tật khúc xạ ở bệnh nhân bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non đã điều trị bằng tiêm bevacizumab nội nhãn”. Đối tượng nghiên cứu là những trẻ có bệnh võng mạc trẻ đẻ non hình thái nặng đã được điều trị bằng tiêm Bevacizumab nội nhãn đơn thuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ năm 2010-2012, các trẻ được mời đến khám lại, phát hiện những bất thường của nhãn cầu bằng máy sinh hiển vi, máy soi đáy mắt trực tiếp và gián tiếp. Về đo khúc xạ khách quan, trẻ được tra 2 lần thuốc Cyclogyl 1% vào mỗi mắt, cách nhau 10 phút sau đó đo khúc xạ bằng phương pháp soi bóng đồng tử sau 1 giờ kể từ lần tra thuốc thứ nhất. Xác định tỉ lệ và mức độ tật khúc xạ theo tương đương cầu (SE – Spherical Equivalent). SE = công suất kính cầu + ½ công suất kính trụ. Trẻ được xác định có cận thị khi SE dưới 0 Diốp, cận thị cao khi SE > -5D. Trẻ được xác định có viễn thị khi SE > 0, viễn thị cao khi SE > +3D. Trẻ được xác định là chính thị khi SE = 0.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, trong số 52 bệnh nhân đến khám lại có 102 mắt đã được tiêm Bevacizumab nội nhãn, có 2 mắt bị bong võng mạc nên không tiêm và không nằm trong đối tượng nghiên cứu. Trong đối tượng nghiên cứu có 29 nam chiếm tỉ lệ 55,8%; 23 nữ chiếm 44,2%. Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 3,7 tuổi; bệnh nhân lớn nhất là 5 tuổi 2 tháng; bệnh nhân nhỏ nhất là 3 tuổi 1 tháng.
Về tình trạng khúc xạ, tỉ lệ tật khúc xạ trong nghiên cứu là 85,3% với khúc xạ tương đương cầu trung bình là – 1,39D; gồm 57 mắt cận thị (55,9%); độ cận thị trung bình là – 2,87D; trong đó có 14 mắt cận thị cao (13,7%). Có 30 mắt viễn thị (29,4%); độ viễn thị trung bình là 1,4D; 4 mắt viễn thị cao (3,9%). Có 15 mắt chính thị (14,7%).
Tác giả nghiên cứu cho rằng, khi đối tượng nghiên cứu được điều trị bằng Bevacizumab, thuốc có tác dụng ức chế hoạt tính sinh học của VEGF làm cho tân mạch thoái triển sau đó mạch máu võng mạc ở mắt bị bệnh sẽ phát triển tới vùng võng mạc vô mạch phía chu biên gần giống như mắt ở trẻ bình thường, còn khi điều trị bằng laser vùng võng mạc vô mạch ở phía sau vùng tổn thương đã bị phá hủy vĩnh viễn, gây tác động nhiều đến cấu trúc nhãn cầu nên làm cho tỉ lệ cận thị cao hơn.
Tác giả cũng nhận xét, mặc dù điều trị bằng các phương pháp khác nhau, nhưng các chuyên gia nghiên cứu đều nhận thấy cận thị là tật khúc xạ hay gặp nhất. Trong các nghiên cứu cơ chế chính xác của việc tăng cận thị ở những bệnh nhân bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non, đặc biệt là trẻ bị bệnh hình thái nặng điều trị bằng tiêm Bevacizumab nội nhãn vẫn chưa rõ, tuy nhiên một số tác giả cho rằng các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tình trạng khúc xạ ở những mắt bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non như sự bất thường của chiều dài trục nhãn cầu, bán kính và độ cong giác mạc, độ sâu tiền phòng, công suất và độ dày thể thủy tinh.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, cần có nghiên cứu kỹ lưỡng hơn các yếu tố ảnh hưởng đến cận thị trên mắt bệnh võng mạc trẻ đẻ non, đặc biệt sau tiêm Bevacizumab, để có thể có những nhận xét xác đáng. Kết quả của nhiều nghiên cứu cũng cho thấy, tỉ lệ và mức độ cận thị tăng lên theo tuổi cả khi được điều trị bằng tiêm Bevacizumab hoặc điều trị bằng laser.
Kết quả trong nghiên cứu 52 bệnh nhân, có 10 bệnh nhân bị lệch khúc xạ giữa 2 mắt, chiếm 19,2%. Độ lệch khúc xạ trung bình trong nghiên cứu là 4,35D. Tác giả nhận xét sau tiêm Bevacizumab; bệnh võng mạc trẻ đẻ non đã thoái triển hoàn toàn, mạch máu tiếp tục phát triển gần như mắt ở trẻ bình thường nên sự phát triển ở 2 mắt gần như tương đồng với nhau. Lệch khúc xạ 2 mắt là yếu tố làm tăng tỉ lệ nhược thị trên bệnh nhân bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non, kết quả nghiên cứu tuy tỉ lệ lệch khúc xạ không cao nhưng độ chênh lệch khúc xạ giữa 2 mắt lại khá cao là 4,35D nên sẽ có nhiều nguy cơ gây nhược thị ở trẻ. Tác giả lưu ý, với những trẻ bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non nên cần được khám và đánh giá tình trạng tật khúc xạ sớm để tránh tình trạng nhược thị do lệch khúc xạ gây ra.
Đức Bảo