[Đăng ngày: 16/01/2018]
Ung thư đại tràng hiện là vấn đề y tế công cộng, rất được quan tâm vì có tỉ lệ mắc và tử vong cao trong các loại ung thư.

Bệnh nhân ung thư đại tràng từ giai đoạn 2 trở đi điều trị bằng phẫu thuật kết hợp với phác đồ hóa chất hỗ trợ FOLFOX4 là điều trị tiêu chuẩn.

Từ tháng 3/2011 đến tháng 3/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Quang Minh cùng cộng sự Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam, tiến hành nghiên cứu mô tả có theo dõi phân tích sau can thiệp, báo cáo đề tài “Đánh giá tỉ lệ sống thêm 5 năm theo đặc điểm vi thể khối u của bệnh nhân ung thư đại tràng điều trị bằng phẫu thuật kết hợp hóa chất theo phác đồ FOLFOX4”.

Đối tượng nghiên cứu là 69 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là ung thư biểu mô đại tràng bằng mô bệnh học; các bệnh nhân được phẫu thuật và điều trị hóa chất bổ trợ phác đồ FOLFOX4 đủ chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Hà Nam; bệnh nhân được đánh giá sau mổ ở giai đoạn 2  có nguy cơ cao và giai đoạn 3.

Tiêu chuẩn loại trừ đối với bệnh nhân mắc các bệnh ung thư phối hợp khác, bệnh nhân tử vong không liên quan đến ung thư đại tràng.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 60,5; tuổi thấp nhất là 39; cao nhất là 79 tuổi; nhóm tuổi hay gặp là 50-69 tuổi, chiếm 68,1%. Về giới tính, nam giới chiếm tỉ lệ 55%; nữ giới 45%. Ở nhóm bệnh nhân dưới 40 tuổi tỉ lệ nam giới nhiều hơn nữ giới; với độ tuổi trên 40 tuổi, tỉ lệ nam, nữ là tương đương nhau.

BS Minh báo cáo, thể sùi của ung thư đại tràng chiếm 36,2%; cao hơn so với thể loét là 15,9%; thấp hơn thể sùi loét chiếm tỉ lệ 40,6%; thể thâm nhiễm chiếm ít nhất với 7,2%. Tác giả phân tích, tỉ lệ trong nghiên cứu cho thấy, khối u xâm nhập đến lớp thanh mạc (T3) và vượt qua thanh mạc xâm lấn ra tổ chức xung quanh (T4) là 49,3% và 30,4%. Có 20,3% số trường hợp có khối u xâm lấn đến lớp cơ (T2) và không có trường hợp bệnh nhân nào khối u còn khu trú ở lớp niêm mạc (T1). Mức độ xâm lấn u có giá trị tiên lượng độc lập đối với bệnh.

Tác giả nghiên cứu cho biết, cho đến nay phẫu thuật là biện pháp chủ yếu để điều trị ung thư đại tràng. Phẫu thuật giúp lấy hết tổ chức ung thư, đảm bảo diện cắt an toàn, nạo vét hạch vùng, lặp lại lưu thông tiêu hóa. Tùy theo vị trí khối u, tình trạng mạch máu, tình trạng hạch mà phẫu thuật viên quyết định cắt đoạn đại tràng, cắt nửa đại tràng hay cắt toàn bộ đại tràng. Phẫu thuật nên cắt khối u sao cho diện cắt cách xa khối u ít nhất 5cm và phải nạo vét hạch theo cuống mạch.

Tác giả nghiên cứu lưu ý, điều trị phẫu thuật ung thư đại tràng hiện nay đang có nhiều thay đổi và áp dụng nhiều kỹ thuật mới, xu hướng là tăng cường điều trị bảo tồn và điều trị kết hợp với hóa trị, miễn dịch và liệu pháp nhắm trúng đích. Tác giả báo cáo, toàn bộ đối tượng nghiên cứu được phẫu thuật triệt căn, cắt đoạn đại tràng, tỉ lệ cắt đại tràng phải cao nhất, có 23% trường hợp phải mổ cấp cứu làm hậu môn nhân tạo sau đó mổ lại thì hai.

Có 6 trường hợp (8,7%) phải phẫu thuật Harmann do khối u đại tràng Sigma lan rộng. Số lượng bệnh nhân phải cắt đại tràng mở rộng thấp chỉ có 4 trường hợp.

BS Minh cho biết, giai đoạn bệnh càng cao, thời gian sống thêm của bệnh nhân càng giảm. Tỉ lệ sống thêm 5 năm ở giai đoạn 2 đạt 100%; giảm dần khi ở giai đoạn 3a là 90,2%; giai đoạn 3b là 68,7%, giai đoạn 3c là 40% (p < 0,0001). Tương tự như vậy, tỉ lệ sống thêm không bệnh 5 năm ở bệnh nhân giai đoạn 2 đạt 85%; giai đoạn 3a là 75%; giai đoạn 3b là 52,6% và giai đoạn 3c là 30% (p < 0,001).

Nhận định về mối liên quan giữa thể mô bệnh học với kết quả sống thêm, tác giả nghiên cứu báo cáo đối với thể không biệt hóa có kết quả xấu nhất, không có bệnh nhân nào trong nghiên cứu sống được 5 năm.

Ung thư biểu mô tuyến nhầy cũng có kết quả khá xấu, tỉ lệ sống 5 năm chỉ được 50%. Trong số bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến, tỉ lệ sống toàn bộ và sống không bệnh đều tăng dần theo độ biệt hóa tế bào. Khối u có độ biệt hóa càng cao thì độ ác tính càng thấp và ngược lại. Khi khối u có độ ác tính càng cao thì khả năng tái phát di căn càng lớn. Thể mô bệnh học và độ biệt hóa tế bào là một trong những yếu tố có giá trị tiên lượng độc lập.

Đối với tỉ lệ bệnh nhân sống thêm 5 năm theo mức độ di căn hạch, tác giả cho biết nhiều tác giả nghiên cứu đã có nhận định mức độ di căn hạch là yếu tố tiên lượng quan trọng ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Số lượng hạch phẫu tích được sau mổ là yếu tố giúp đánh giá chính xác giai đoạn và tiên lượng bệnh, đồng thời ảnh hưởng đến quyết định phác đồ điều trị cho bệnh nhân sau mổ.

Theo các chuyên gia ung thư, ung thư đại tràng là những tổn thương ung thư của biểu mô tuyến xuất phát từ lớp niêm mạc của đại tràng; yếu tố nguy cơ là di truyền, đa polyp gia đình; chế độ ăn nhiều thịt, ít rau quả, thừa cân, thuốc lá, rượu bia, sử dụng liệu pháp hormon thay thế. Để chẩn đoán xác định bệnh cần nội soi đại tràng – sinh thiết; chụp đại tràng cản quang nếu nội soi không đến manh tràng, do khối u gây hẹp lòng đại tràng và máy soi không qua được khối u.
  Minh Tâm
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 342

Số lượt truy cập: 9290551

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang