Tại Hội nghị khoa học Tim mạch can thiệp thường niên được Hội Tim mạch can thiệp TP Hồ Chí Minh và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hoà tổ chức vào tháng 6/2017 tại TP Nha Trang thu hút hơn 600 đại biểu, chuyên gia các tỉnh, thành phố đến tham dự với gần 60 đề tài nghiên cứu khoa học được báo cáo.

Theo GS. Võ Thành Nhân- Chủ tịch Hội tim mạch Can thiệp TP Hồ Chí Minh, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ tử vong về bệnh lý tim mạch hàng đầu. Toàn cầu có khoảng 1,6 tỷ người tăng huyết áp; tăng huyết áp là nguyên nhân gây tử vong và tàn tật hàng đầu ở mọi khu vực trên thế giới, riêng khu vực Đông Á và Thái Bình Dương tỷ lệ tử vong là 13,6%; tỷ lệ tàn tật là 6,5%. Tăng huyết áp cứ mỗi 20/10 mmHg sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong do tim mạch. Một kết quả phân tích gộp của 61 nghiên cứu cho thấy trên 12,7 triệu người/ năm, khi huyết áp tâm thu trung bình giảm được 2mmHg thì người đó giảm được 7% nguy cơ bệnh tim thiếu máu cục bộ và tử vong do các bệnh mạch máu khác; giảm được 10% nguy cơ tử vong do đột quỵ não.
GS.Nhân lưu ý, huyết áp nếu được theo dõi liên tục 24 giờ là yếu tố tiên đoán nguy cơ bệnh tim mạch tốt nhất; tốt hơn cả việc đo huyết áp ở phòng khám. Huyết áp mục tiêu theo hướng dẫn của JNC VII 2003 là < 140/90 mmHg; đối với người đái tháo đường, bệnh thận huyết áp < 130/80 mmHg; Hiệp hội Tăng huyết áp Châu Âu và Hiệp hội Tim mạch Châu Âu (ESH-ESC) 2007 đưa ra huyết áp mục tiêu cho người đái tháo đường, người bệnh thận, người sau đột quỵ, sau nhồi máu cơ tim huyết áp < 130/80 mmHg. Còn hướng dẫn của WHO- ISH huyết áp mục tiêu đối với người đái tháo đường, bệnh thận, bệnh tim mạch huyết áp < 130/80 mmHg. Thách thức trong kiểm soát huyết áp đó là huyết áp thường không được kiểm soát tốt ngay cả khi được điều trị; vấn đề kiểm soát huyết áp đặc biệt kém đối với các bệnh nhân nguy cơ cao; tăng huyết áp không kiểm soát có nguy cơ tim mạch giống như tăng huyết áp không điều trị. Do vậy, bệnh nhân tuân thủ điều trị có vai trò rất quan trọng; bệnh nhân tuân thủ điều trị thường sẽ kiểm soát được huyết áp; làm cho các nguy cơ biến cố tim mạch giảm xuống ở mức thấp nhất.
Trong điều trị tăng huyết áp, GS.Nhân cho rằng hệ renin angiotensin là cơ sở điều trị tăng huyết áp hiện đại. Mỗi nhóm thuốc hạ huyết áp đều tác động trên hệ renin angiotensin. GS. Nhân nhận xét, thuốc điều trị huyết áp lý tưởng cần có đặc tính bảo vệ tim mạch, giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh tim mạch; giảm huyết áp mạnh và kéo dài 24 giờ, thuốc phải an toàn và dung nạp tốt. Đối với thuốc ức chế men chuyển có tác dụng không mong muốn là làm giảm dung nạp và gia tăng sự không tuân thủ của người bệnh; ho có thể xảy ra tỷ lệ 35%; phù mạch xảy ra tỷ lệ 0.1-0,7%, những trường hợp này bác sĩ thường phải thay thế bằng thuốc khác.
Theo kinh nghiệm, GS.Nhân cho rằng phần lớn bệnh nhân tăng huyết áp cần điều trị phối hợp thuốc để đạt được huyết áp mục tiêu. Do tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ tim mạch chính so với các yếu tố nguy cơ khác; sử dụng thuốc hạ huyết áp dung nạp tốt, mạnh chính là yếu tố cốt lõi để đạt được mục tiêu điều trị tăng huyết áp; thuốc ức chế thụ thể là nhóm thuốc hạ huyết áp tốt nhất; người bệnh tuân thủ điều trị với thuốc ức chế thụ thể nhiều hơn so với các nhóm thuốc hạ huyết áp khác. Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy có sự khác biệt giữa các thuốc ức chế thụ thể về thời gian hiệu quả, khả năng gắn thụ thể và tính thâm nhập mô. Các nghiên cứu cũng chỉ ra sự phối hợp giữa thuốc telmisartan và amlodipine giúp hạ huyết áp mạnh hơn và giảm tác dụng không mong muốn nhiều hơn so với đơn trị liệu thuốc amlodipine.
Chúng ta biết rằng, tăng huyết áp vẫn là một trong những vấn đề của sức khoẻ cộng đồng cần được quan tâm không những vì tần suất mắc bệnh cao mà còn do những ảnh hưởng của bệnh tăng huyết áp lên cuộc sống của người bệnh. Tỷ lệ kiểm soát được huyết áp vào khoảng 30% ngay cả đối với những nước phát triển. Bệnh tăng huyết áp gia tăng song hành với sự gia tăng về tuổi thọ, các yếu tố thuận lợi như béo phì, stress trong cuộc sống, sự ít vận động.
Ở trên cùng một người, trị số huyết áp có những thay đổi theo giờ trong ngày; có xu hướng cao vào buổi sáng và thấp về đêm; thay đổi theo phản ứng của cơ thể, khi có stress, sau ăn no. Huyết áp tâm thu có thể tăng 5mmHg cho mỗi 10 năm; huyết áp tâm trương thường không đổi. Bệnh tăng huyết áp có diễn tiến chậm, khi tăng huyết áp chưa có biến chứng lên các cơ quan thường người bệnh không có triệu chứng. Các triệu chứng nếu có của tăng huyết áp được xếp thành 3 nhóm: nhóm triệu chứng do huyết áp tăng như nhức đầu vùng chẩm vào buổi sáng sau khi thức dậy, chóng mặt, hồi hộp, mau mệt mỏi. Nhóm triệu chứng mạch máu do tăng huyết áp như chảy máu mũi, nhìn loá do tổn thương võng mạc, đau ngực do bóc tách động mạch chủ ngực, chóng mặt tư thế. Nhóm triệu chứng do bệnh căn bản của tăng huyết áp thứ phát như nhức đầu từng cơn kèm hồi hộp đánh trống ngực, đỏ bừng mặt (trong tăng huyết áp do u tuỷ thượng thận), yếu liệt cơ do hạ kali máu (bệnh Cohn).
Lâm Quyên