Theo GS.Nguyễn Chấn Hùng- Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, ung thư phổi là bệnh ung thư thường gặp nhất, là sát thủ mạnh tay nhất trên toàn cầu.

Ở giai đoạn đầu, triệu chứng ung thư phổi mập mờ, dễ bỏ qua. Khi đã nặng hơn có thể có triệu chứng sưng phổi, nặng ngực, thở thấy nặng. Người bệnh than thở “dạo này cứ cảm đi cảm lại hoài”. Người bệnh ho húng hắng, dai dẳng nhất là những người có tuổi, hay hút thuốc lá. Về lâu người bệnh đau lưng thường xuyên, thở sâu thấy nặng hơn, ho ra máu, hơi thở ngắn đi, khàn tiếng, viêm thanh quản lặp đi lặp lại, đàm dính máu, phù mặt cổ, thở khó. Sụt cân vô cớ, không thèm ăn hay mệt mỏi là những triệu chứng báo động. Các phương tiện như chụp cắt lớp điện toán CT, chụp cộng hưởng từ MRI giúp xác định bệnh rõ. Sinh thiết khối bướu FNA có CT hướng dẫn; nội soi phế quản là những xét nghiệm thực hiện khi có nghi ngờ mắc bệnh.
Ung thư biểu mô tuyến là phân típ mô bệnh học phổ biến và phức tạp nhất của ung thư phổi. Các chuyên gia ung thư cho rằng một số biến thể của ung thư biểu mô tuyến có thể nhầm lẫn với ung thư biểu mô vảy nếu chỉ sử dụng kỹ thuật xét nghiệm vi thể thường quy. Hiện nay, khoảng 70% các trường hợp ung thư phổi được chẩn đoán qua sinh thiết phổi. Năm 2011, các chuyên gia thuộc Hội nghiên cứu ung thư phổi quốc tế (IASLC), Hội Lồng ngực Hoa Kỳ (ATS) và Hội Hô hấp Châu Âu (ERS) đã giới thiệu một phân loại ung thư biểu mô tuyến mới dựa trên bệnh phẩm sinh thiết phổi. Phân loại này nhấn mạnh típ mô bệnh học với tương quan chẩn đoán hình ảnh, sinh học phân tử với mục đích góp phần tiên lượng và điều trị cá thể hóa bệnh ung thư phổi.
Từ tháng 1/2014 đến tháng 9/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Tình cùng cộng sự Bệnh viện 74 Trung Ương, Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội tiến hành đề tài nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân loại mô bệnh học ung thư biểu mô tuyến phế quản theo IASLC/ATS/ERS 2011”.
Theo tác giả nghiên cứu, có 157 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư biểu mô tuyến phế quản bằng mô bệnh học qua sinh thiết tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu không thực hiện cho những đối tượng típ ung thư phổi khác, ung thư phổi thứ phát, ung thư phổi phối hợp, các bệnh nhân có chống chỉ định các thủ thuật sinh thiết; loại trừ các trường hợp mảnh sinh thiết không đủ làm mô bệnh học. Các đối tượng nghiên cứu được tiến hành lấy bệnh phẩm để chẩn đoán mô bệnh học bằng phương pháp nội soi phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực, sinh thiết màng phổi. Phân loại giai đoạn theo hệ thống phân loại quốc tế 2009. Bệnh phẩm được làm tại Trung tâm Giải phẫu bệnh, được đọc phân tích kết quả dưới kính hiển vi quang học về hình thái phân típ ung thư biểu mô tuyến, chẩn đoán xác định các phân típ. Các tiêu bản chưa định típ được tiến hành nhuộm hóa mô miễn dịch với các marker đặc hiệu, marker ung thư biểu mô vảy để chẩn đoán xác định.
Theo báo cáo của tác giả Nguyễn Văn Tình, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 60,2; người trẻ nhất là 31 tuổi, già nhất là 84 tuổi. Nhóm tuổi trên 60 trở lên chiếm 54%. Tỷ lệ nam/nữ là 1,9/1. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có hút thuốc lá là 61%; thời gian từ khi có triệu chứng đến khi nhập viện từ 1-2 tháng gần 50%. Lý do nhập viện đau ngực có tỷ lệ 90%; phát hiện tình cờ chỉ có tỷ lệ 4,5%. Các triệu chứng khác thường gặp là sút cân (86%); ho khan (61%), mệt mỏi (42%); phổi có hội chứng 3 giảm 25%; các triệu chứng ho ra máu 19%; khàn tiếng 7,6%; nuốt nghẹn 2,5%.
Tác giả nghiên cứu cho biết kết quả chụp cắt lớp vi tính, kích thước khối u trung bình 34,4 mm, ca có khối u nhỏ nhất là 10mm; ca lớn nhất là 90mm. Kích thước khối u từ 30-50mm chiếm đến 46%; dạng tua gai 56%; u dạng đặc là 58%. Về đặc điểm khối u trên CT lồng ngực; khối u ở ngoại vi là 65%; ở trung tâm thấp hơn là 35%; khối u ở phổi phải là 60,5% và nhiều hơn gấp đôi bên phổi trái; u dạng khối có tỷ lệ 43,3%; nốt đơn độc 25,5%; kết hợp tràn dịch màng phổi 25%. Xét nghiệm nội soi phế quản có 59% bệnh nhân không thấy tổn thương.
Về phân loại mô bệnh học ung thư biểu mô tuyến phế quản theo IASLC/ATS/ERS 2011; có 80,3% trường hợp được phân típ xác định bằng phương pháp thường quy HE, PAS; có 19% định típ bằng hóa mô miễn dịch. Kết quả phân típ, ung thư biểu mô tuyến chùm nang chiếm tỷ lệ cao nhất là 51%; vị trí khối u theo phân típ, ung thư biểu mô tuyến nang ở trung tâm là 56,4%; ngoại vi 48%; lepedic trung tâm có tỷ lệ 9,1%; lepedic ngoại vi là 8,1%.
BS.Nguyễn Văn Tình có kết luận cho nghiên cứu, triệu chứng lâm sàng nổi bật là đau ngực, sút cân, ho khan, khó thở. Chụp CT khối u hay ở ngoại vi, u dạng khối có tỷ lệ 43,3%. Hình ảnh nội soi phế quản có 59,2% không thấy tổn thương; tổn thương dạng thâm nhiễm niêm mạc phế quản hay gặp. Phân típ mô bệnh học 80,3% định típ bằng HE,PAS; 19,7% định típ bằng hóa mô miễn dịch. Phân típ chùm nang chiếm cao nhất, biến thể dạng thai hiếm gặp, có mối liên quan giữa các phân típ mô bệnh học với vị trí, hình thái khối u.
Mai Trang