Ung thư đại trực tràng là bệnh ác tính có thể gặp ở mọi lứa tuổi và ở cả 2 giới nam và nữ. Tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng có xu hướng ngày càng tăng, đứng hàng thứ 5 ở cả 2 giới đối với bệnh ung thư.
Ung thư đại trực tràng là bệnh có thể phòng ngừa được thông qua các chương trình tầm soát phát hiện sớm nhằm loại bỏ các polyp hoặc khối u nhỏ. Ở giai đoạn sớm, bệnh ung thư đại trực tràng có biểu hiện lâm sàng không rõ ràng, vì vậy đa số phát hiện bệnh đã ở giai đoạn muộn; do vậy càng ngày thực hiện các biện pháp sàng lọc khám phát hiện bệnh sớm để được điều trị kịp thời là rất đáng quan tâm.

Các nghiên cứu trong, ngoài nước cho thấy những phát hiện mới về cơ chế bệnh sinh ở mức độ phân tử, ung thư đại trực tràng là kết quả sự tích lũy các đột biến gen của tế bào biểu mô niêm mạc. Những đột biến gen làm suy giảm hoặc tăng cường quá mức các tín hiệu tế bào gây rối loạn các quá trình phát triển, phân chia, biệt hóa cũng như quá trình chết theo chương trình (apotosis) của tế bào dẫn đến sự khởi phát và phát sinh ung thư. Các đột biến phát hiện trong ung thư đại trực tràng gồm đột biến các gen gây ung thư, đột biến các gen ức chế khối u; đột biến các gen sửa chữa.
Đột biến gen gây ung thư KRAS, NRAS và BRAF đã được nghiên cứu là gây kháng thuốc điều trị nhắm trúng đích ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng. Đột biến gen KRAS được phát hiện có tỷ lệ từ 30% đến 50%; còn đột biến gen NRAS và BRAF được phát hiện từ 5% - 15% các trường hợp ung thư đại trực tràng. Trong điều trị bệnh, phẫu thuật giúp loại bỏ khối u, sử dụng các loại hóa chất mới chống ung thư, trong đó có hóa chất nhắm đích thụ thể EGFR góp phần cải thiện đáng kể tỷ lệ khỏi bệnh và kéo dài thời gian sống cho người bệnh. Tuy nhiên thuốc điều trị đích thụ thể EGFR chỉ có hiệu quả đối với những bệnh nhân không có đột biến gen KRAS, NRAS và BRAF. Do vậy, việc xác định tình trạng đột biến gen KRAS, NRAS và BRAF trên bệnh nhân trở thành quan trọng, cần thiết trước khi sử dụng thuốc nhắm đích điều trị cho người bệnh ung thư đại trực tràng.
Nhóm tác giả nghiên cứu Trần Huy Thịnh cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tình trạng đột biến gen KRAS, NRAS và BRAF ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng”. Đối tượng nghiên cứu có 92 bệnh nhân được điều trị ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện K Trung ương và Trung tâm Ung bướu BV Bạch Mai. Kỹ thuật nghiên cứu, DNA được tách chiết từ mẫu mô đúc parrafin của bệnh nhân sau khi lựa chọn chính xác vùng tế bào ung thư. Về kỹ thuật giải trình tự gen, khuếch đại vùng codon 12, 13 của gen KRAS, exon 2 của gen NRAS và exon 15 của gen BRAF bằng kỹ thuật nested PCR; giải trình tự gen bằng phương pháp BigDye terminator sequencing.
Theo báo cáo của tác giả nghiên cứu Trần Huy Thịnh, trong 92 đối tượng nghiên cứu, có 28/92 (30,4%) bệnh nhân mang đột biến gen KRAS; 2/92 bệnh nhân mang đột biến gen NRAS và 4/92 bệnh nhân mang đột biến gen BRAF. Có đến 63% đối tượng nghiên cứu không phát hiện được đột biến. Tác giả nghiên cứu cho biết, theo kết quả nhiều nghiên cứu tỷ lệ đột biến gen NRAS và BRAF thường thấp hơn rất nhiều so với gen KRAS. Khi phân tích trong nghiên cứu về các dạng đột biến của gen KRAS, phát hiện có 6 loại đột biến khác nhau. Trong đó đột biến G12D chiếm tỷ lệ cao nhất với 15/28 trường hợp; đột biến G13D có 7/28 trường hợp; đột biến G12V có 3/28 trường hợp.
Báo cáo cho thấy, hình ảnh đại diện cho kết quả đột biến G12D tại exon 2gen KRAS bằng kỹ thuật giải trình tự gen; so sánh trình tự DNA lành tính với DNA ung thư; tại vị trí nucleotid 35 exon2 : G bị biến đổi thành A, làm cho axit amin glycin (G) tại codon 12 bị biến thành Aspartate (D), gây nên đột biến G12D. Tại vị trí nucleotid 38, exon2 : G bị biến đổi thành A, làm cho axit amin G tại codon 13 bị biến thành D, gây nên đột biến G13D.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, mặc dù tỷ lệ đột biến gen NRAS và BRAF thấp hơn nhiều so với đột biến gen KRAS nhưng hậu quả gây kháng thuốc điều trị đích trên lâm sàng của đột biến 2 gen này tương đương nhau, vì vậy xác định đột biến cả 3 gen là cần thiết đối với mỗi người bệnh để từ đó bác sĩ có thể đưa ra được chỉ định điều trị chính xác nhất cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng.
Hữu Cao