[Đăng ngày: 10/08/2017]
Đối với trẻ em sau phẫu thuật, tỷ lệ buồn nôn, nôn cao gấp khoảng 2 lần so với người lớn.

Theo các chuyên gia gây mê hồi sức, mặc dù các thuốc chống nôn thế hệ mới đã được nghiên cứu và sử dụng, tỷ lệ buồn nôn và nôn ở trẻ em vẫn còn cao, đặc biệt là sau các phẫu thuật chỉnh hình tật mắt lác, phẫu thuật tai mũi họng. Riêng đối với phẫu thuật cắt amidan tỷ lệ nôn, buồn nôn sau phẫu thuật từ 38-73%. Ngoài các biến chứng đau, chảy máu, suy thở; buồn nôn, nôn sau phẫu thuật làm bệnh nhân ra mồ hôi, nhịp tim nhanh, đau bụng, kéo dài thời gian nằm ở phòng hồi tỉnh, thời gian nằm viện, tăng nguy cơ viêm phổi do hít phải chất nôn. Trong trường hợp nôn sau phẫu thuật mức độ nặng có thể làm mất nước, rối loạn điện giải; bục và chảy máu vết mổ; gây stress và nặng nề thêm tâm lý.

Có nhiều nghiên cứu về thuốc dự phòng buồn nôn, nôn sau phẫu thuật ở trẻ em như các dẫn xuất butyrophenon (droperidol), dẫn xuất phenothiazin; thuốc đối kháng thụ thể dopamine (metoclopramid) và kháng histamine.

Từ tháng 4-11/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Ngọc Bình cùng cộng sự Bệnh viện Trung ương Huế, Trường Đại học Y Dược Huế tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác dụng dự phòng buồn nôn và nôn của Dexamethason kết hợp Ondansetron sau cắt amindan ở trẻ em”.

Đối tượng nghiên cứu là các trẻ có chỉ định phẫu thuật và gây mê hồi sức cắt amidan tại Khoa Tai mũi họng và Khoa Gây mê Hồi sức Bệnh viện Trung ương Huế. Nhóm nghiên cứu đã có giải thích và sự đồng thuận tự nguyên tham gia nghiên cứu của bệnh nhân và người bảo hộ bệnh nhân; chia đối tượng nghiên cứu là hai nhóm ngẫu nhiên, liều thuốc và thời điểm tiêm thuốc dựa vào hướng dẫn quản lý buồn nôn, nôn sau phẫu thuật cho trẻ em như sau: nhóm ON tiêm tĩnh mạch 0,1 mg/kg Ondansetron (tối đa 4 mg), lúc kết thúc phẫu thuật; nhóm DO tiêm tĩnh mạch 0,15mg/kg dexamethason (tối đa 4mg) trước khi khởi mê và 0,1 mg/kg Ondansetron (tối đa 4mg) lúc kết thúc phẫu thuật. Điều trị cứu nguy buồn nôn, nôn sau phẫu thuật bằng metoclopramid và propofol khi dự phòng thất bại. (Buồn nôn kéo dài > 30 phút hoặc nôn thật sự > 1 lần trong 15 phút). Mỗi nhóm đều theo dõi tỷ lệ buồn nôn, nôn sau phẫu thuật; mức độ ở từng giai đoạn 0-6 giờ; 7-12 giờ và 13-24 giờ đầu.

Theo báo cáo của tác giả Lê Ngọc Bình, có 225 đối tượng nghiên cứu đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu. Các đặc điểm chung tuổi, giới, chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể, phân loại sức khỏe theo ASA và tiền sử nôn sau mổ của đối tượng nghiên cứu; thời gian phẫu thuật, thời gian gây mê; lượng dịch truyền và fentanyl sử dụng trong phẫu thuật giữa hai nhóm sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ buồn nôn, nôn sau phẫu thuật trong giai đoạn 0-24 giờ ở nhóm DO (nhóm có can thiệp) là 17,4% thấp hơn nhiều so với nhóm chứng ON là 38,5% (p<0,05). Ở giai đoạn 0-6 giờ nhóm DO là 6,4%, nhóm ON là 11%; giai đoạn 7-12 giờ nhóm DO là 9,2%, nhóm ON là 21,1%; giai đoạn 13-24 giờ nhóm DO là 1,8%, nhóm ON là 6,4%. Kết quả này chứng tỏ nhóm sử dụng dexamethason kết hợp ondansetron có tác dụng dự phòng buồn nôn, nôn sau phẫu thuật tốt hơn so với nhóm ondansetron đơn thuần trong 24 giờ đầu cho bệnh nhân.

Tác giả Lê Ngọc Bình phân tích, hai thuốc dexamethason kết hợp ondansetron có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau. Trường hợp bệnh nhân có yếu tố nguy cơ không dự phòng hoặc chỉ dự phòng 1 loại thuốc và theo dõi nếu có buồn nôn, nôn sau phẫu thuật. Đối với trường hợp bệnh nhân có từ 2 yếu tố nguy cơ trở lên thì tiến hành liệu pháp dự phòng từ 2 thuốc trở lên. Trong nghiên cứu này, đối tượng có tuổi > 4 năm; thời gian phẫu thuật > 30 phút có tỷ lệ 93,6%; người thân trong gia đình có buồn nôn, nôn sau phẫu thuật chiếm 32,6%; do vậy đối tượng nghiên cứu có 3 yếu tố nguy cơ cao và 4 yếu tố nguy cơ cao chiếm tỷ lệ đến 95,7%.

Về tỷ lệ chung xuất hiện các tác dụng không mong muốn là 4,6% các triệu chứng nhức đầu, chóng mặt, ngủ gà (tác dụng an thần) đều xuất hiện ở cả hai nhóm. Về thất bại của liệu pháp dự phòng, theo các nghiên cứu 3 yếu tố nguy cơ là tiền sử gia đình có người nôn sau phẫu thật; thời gian phẫu thuật từ 50 phút trở lên và sử dụng morphin sau phẫu thuật làm tăng nguy cơ thất bại của liệu pháp dự phòng. Do vậy, để làm giảm tỷ lệ thất bại của liệu pháp, cần rút ngắn thời gian gây mê phẫu thuật để giảm thời gian tiếp xúc với thuốc mê; áp dụng phương pháp giảm đau đa mô thức để giảm đau hoặc không sử dụng morphin, qua đó giúp hạn chế được thất bại của liệu pháp dự phòng buồn nôn, nôn sau phẫu thuật.

Văn Hanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 397

Số lượt truy cập: 9365926

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang