Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch bao gồm huyết khối tĩnh mạch sâu và tắc động mạch phổi.

Theo các chuyên gia tim mạch, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch là nguyên nhân phổ biến đứng hàng thứ 3 trong các bệnh lý về tim mạch, bệnh có tỷ lệ mới mắc hàng năm 100-200/100.000 dân. Số liệu cho thấy năm 2004, tại 6 quốc gia Châu Âu với tổng số dân 454,4 triệu người; có hơn 317.000 trường hợp tử vong liên quan đến thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Trong số này có 34% tử vong đột ngột; 59% tử vong do tắc động mạch phổi không được chẩn đoán trong suốt cuộc đời; chỉ có 7% thuyên tắc động mạch phổi được chẩn đoán đúng trước tử vong. Triệu chứng của thuyên tắc động mạch phổi thay đổi rộng, có thể là khó thở đột ngột, đau ngực kiểu màng phổi và ho. Có nhiều trường hợp tắc động mạch phổi có triệu chứng nhẹ, thậm chí không có triệu chứng. Có nhiều yếu tố nguy cơ gây tắc động mạch phổi, trong đó bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một yếu tố nguy cơ, nhất là những trường hợp đợt cấp COPD nhập viện. Các nghiên cứu tác giả ở ngoài nước cho thấy tỉ lệ hiện mắc tắc động mạch phổi trong đợt cấp COPD từ 16-20%. Do vậy các chuyên gia cho rằng, phát hiện tắc động mạch phổi trong đợt cấp COPD có ý nghĩa lâm sàng quan trọng vì tỷ lệ tử vong đặc biệt cao. Vấn đề thách thức là chẩn đoán tắc động mạch phổi ở bệnh nhân đợt cấp COPD là rất khó vì có sự chồng lấp các triệu chứng. Qua nghiên cứu mổ tử thi ghi nhận tỷ lệ mới mắc tắc động mạch phổi ở bệnh nhân COPD là từ 28-51% nhưng không được chẩn đoán trước tử vong.
Từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Quang Đợi cùng cộng sự Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Đa khoa Hải Dương tiến hành đề tài nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tắc động mạch phổi ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”. Đối tượng nghiên cứu là 21 bệnh nhân được chẩn đoán xác định tắc động mạch phổi ở đợt cấp COPD theo hướng dẫn của GOLD được điều trị nội trú tại Trung tâm Hô hấp- Bệnh viện Bạch Mai.
Theo báo cáo của tác giả nghiên cứu, độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 68,8; nam giới gấp 3 lần so với nữ giới; có 17/21 trường hợp hút thuốc lá; trung bình 37 bao thuốc lá/năm. Đa số đối tượng nghiên cứu gặp đợt cấp COPD nặng, nhiều đợt cấp, nhiều triệu chứng; cùng trên đối tượng nghiên cứu đồng mắc thêm bệnh đái tháo đường (43%), tăng huyết áp (76%), suy tim (52%), suy vành (33%).
BS.Nguyễn Quang Đợi cho biết, đợt cấp là một biến cố quan trọng trong diễn tiến của COPD vì ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sống, ảnh hưởng đến triệu chứng và chức năng phổi; mất nhiều tuần lễ để phục hồi; làm nhanh sự suy giảm chức năng phổi; chi phí điều trị tốn kém. Tử vong tại Bệnh viện ở bệnh nhân đợt cấp COPD có tăng CO2 máu gây toan hô hấp chiếm khoảng 10%; có 40 bệnh nhân sau 1 năm cần thông khí nhân tạo; sau 3 năm tử vong do nhiều nguyên nhân là 49%. Những đối tượng nghiên cứu xuất hiện trên 2 đợt cấp mỗi năm được xác định là đợt cấp thường xuyên, một kiểu hình xuất hiện ổn định theo thời gian. Do sự đồng mắc nhiều bệnh nên khi đối tượng nghiên cứu có đợt cấp COPD nhập viện, khó phân biệt do bản thân COPD hay do các triệu chứng của các bệnh đồng mắc.
Bs.Đợi phân tích, triệu chứng lâm sàng thường gặp ở đối tượng nghiên cứu là ho khạc đờm, đau ngực, khó thở, tím môi và đầu chi, tình trạng co thắt phế quản. Một số biểu hiện dấu hiệu suy tim phải như phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi. Những biểu hiện này là tình trạng mất bù trong đợt cấp COPD. Đợt cấp COPD gây tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, tỷ lệ có thể từ 16-20%. Do có sự chồng lắp các triệu chứng, việc phân biệt các triệu chứng của đợt cấp COPD với tắc động mạch phổi đặc biệt khó khăn. Hiện nay, hướng dẫn định hướng chẩn đoán tắc động mạch phổi dựa trên đánh giá nguy cơ lâm sàng và xét nghiệm D-dimer. Nếu nguy cơ lâm sàng thấp (theo thang điểm Wells/Geneva) kết hợp D-dimer âm tính cho phép loại trừ tắc động mạch phổi.
Tác giả nghiên cứu lưu ý đối với những bệnh nhân nghi ngờ tắc động mạch phổi, nên làm các xét nghiệm như khí máu động mạch, các peptit bài natri (BNP, pro-BNP, NT-proBNP), troponin, D-dimer, điện tim, chụp X-quang ngực, qua đó giúp hỗ trợ chẩn đoán và tiên lượng bệnh. Xét nghiệm D-dimet có vai trò quan trọng, giúp loại trừ tắc động mạch phổi khi kết quả là âm tính. Về điện tim, có nhiều biến đổi, nhưng có 25% ca điện tim bình thường. Phát hiện nổi tiếng là dấu hiệu S1Q3T3, nhịp tim nhanh xoang hay gặp nhất. Một số dấu hiệu trên điên tim giúp xác định tiến triển bệnh, xuất hiện các triệu chứng như QRS thấp, block nhánh phải hoàn toàn hoặc không hoàn toàn; ST chênh lên ở chuyển đạo V1; có biểu hiện sốc tim; rối loạn nhịp nhĩ; mô hình giả nhồi máu.
BS. Đợi cũng cho biết kết quả chẩn đoán hình ảnh cho thấy các tổn thương viêm phổi, giãn phế quản, giãn phế nang, kén khí, tràn dịch màng phổi, bóng tim to, cao vòm hoành 1 bên. Nghiên cứu cho thấy X-quang có thể bỏ sót tổn thương phổi so với chụp CT-PA. Dấu hiệu trên X-quang của tắc động mạch phổi cấp thấy giảm tưới máu khu trú, sung huyết bên phổi bị tổn thương, giãn các động mạch rốn phổi, vòm hoành cao 1 bên, giãn thân động mạch phổi, tràn dịch màng phổi, xẹp phổi và thâm nhiễm phổi. Hiện nay, kỹ thuật chụp CT-PA giúp chẩn đoán xác định tắc động mạch phổi và đánh giá mức độ nặng của bệnh cùng các tổn thương phổi đi kèm.
Tường Huân