Thoát vị đĩa đệm là sự dịch chuyển tổ chức đĩa đệm vượt quá giới hạn giải phẫu sinh lý của vòng xơ.
Khối thoát vị có thể là nhân nhày, sụn, bản xương sụn thậm chí cả vòng xơ đĩa đệm. Thoát vị đĩa đệm thường gặp ở độ tuổi 30 – 50 gây ảnh hưởng đến người lao động. Điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng chủ yếu là điều trị nội khoa và điều trị phẫu thuật. Điều trị phẫu thuật được đặt ra khi thoát vị đã vỡ chèn ép vào rễ thần kinh gây triệu chứng đau tương ứng; hoặc những trường hợp có thoát vị điều trị nội khoa sau 3 tháng không có kết quả. Trong điều trị phẫu thuật, mổ mở được áp dụng nhiều nhất. Mổ mở có một số hạn chế đó là đường mổ dài, tổn thương phần mềm lớn, mất máu nhiều, có thể gây mất vững cột sống. Một số nước trình độ y học phát triển, mổ mở chỉ còn áp dụng đối với những trường hợp thoát vị đã vỡ, thể thoát vị ở vị trí khó hoặc thoát vị kèm theo mất vững cột sống, hẹp ống sống, hội chứng đuôi ngựa.
.JPG)
Sự phát triển của phẫu thuật nội soi qua lỗ liên hợp lấy nhân thoát vị trong thoát vị đĩa đệm, phẫu thuật viên sử dụng đường vào là đường bên qua lỗ liên hợp hầu như không làm thương tổn đến giải phẫu của cột sống; đường mổ nhỏ khoảng 0,7cm nên sẹo sơ dính rất ít; bệnh nhân chỉ cần gây tê tại chỗ, trong quá trình mổ bệnh nhân tỉnh hoàn toàn vì vậy phẫu thuật viên có thể đánh giá ngay được hiệu quả của phẫu thuật. Thời gian nằm viện của bệnh nhân khoảng 1 – 2 ngày; trở lại hoạt động bình thường trong vòng 4 tuần.
Từ năm 2007 tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội đã thực hiện được phẫu thuật nội soi qua lỗ liên hợp lấy nhân thoát vị và đã triển khai thường quy.
Từ tháng 3/2014 đến tháng 4/2015 nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Lê Bảo Tiến cùng cộng sự Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức thực hiện báo cáo đề tài nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng L4, L5 tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức”.
Đối tượng nghiên cứu là 40 bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị đĩa đệm L4, L5 có chỉ định phẫu thuật và được phẫu thuật bằng phương pháp nội soi qua lỗ liên hợp. Độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 43,7; bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 18, cao nhất là 64 tuổi. Độ tuổi 30 – 60 chiếm tỷ lệ 75%; nhóm 18 – 30 tuổi chiếm tỷ lệ 17,5%. Tỷ lệ nam/nữ là 1,85/1. Tỷ lệ bị bệnh của nhóm lao động nặng/nhóm lao động nhẹ là 1,67/1.
Theo báo cáo của bác sĩ Nguyễn Lê Bảo Tiến, đánh giá mức độ hạn chế vận động cột sống thắt lưng theo thang điểm ODI thấy 100% bệnh nhân ảnh hưởng đến chức năng cột sống; có 10% bệnh nhân mất chức năng cột sống thắt lưng; điểm ODI trung bình trước phẫu thuật là 66. Qua thăm khám, 40/40 bệnh nhân có triệu chứng Lasegue dương tính, Lasegue chéo có gần 50% bệnh nhân dương tính; hơn 80% đối tượng nghiên cứu có triệu chứng Dejesine dương tính; điểm đau Valleix có 22% bệnh nhân dương tính. Gần 70% bệnh nhân có rối loạn cảm giác; không có bệnh nhân nào bị rối loạn vận động. Trong số những bệnh nhân có Lasegue chéo dương tính, tất cả đều có Vas chân trên 7 điểm và dấu hiệu Dejesine dương tính. Bác sĩ Bảo Tiến lưu ý, triệu chứng Lasegue là dấu hiệu rõ nhất để chẩn đoán về mặt lâm sàng bệnh nhân có thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng và triệu chứng Lasegue chéo đánh giá mức độ đau của bệnh nhân.
Về đặc điểm chẩn đoán hình ảnh, 40/40 đối tượng nghiên cứu chụp X-quang cột sống thắt lưng thẳng nghiêng trước mổ; có 55% bệnh nhân có mất đường cong sinh lý cột sống thắt lưng. Dấu hiệu hẹp khe LTĐ trước phẫu thuật gặp 45% bệnh nhân; có 01 trường hợp gãy eo, không có bệnh nhân nào có mất vững cột sống thắt lưng.
BS Bảo Tiến cho biết, người bệnh thường đến bệnh viện với triệu chứng đau cột sống thắt lưng lan xuống chân theo đường đi của rễ thần kinh. Nguyên nhân của đau lưng do tổn thương đĩa đệm. Khi bao xơ chưa rách hoàn toàn, áp lực nội đĩa tăng cao tác động vào chỗ bao xơ bị rách, bị tổn thương do vi chấn thương sẽ tác động lên thụ thể cảm giác vùng bao xơ gây nên triệu chứng đau lưng. Khi thoát vị đã vỡ ra khỏi bao thì áp lực nội đĩa giảm nhanh và đau lưng sẽ giảm. Bên cạnh đó, khi xuất hiện triệu chứng chèn ép rễ cũng làm giảm bớt sự chú ý của người bệnh về đau lưng. Khi điểm ODI trung bình trước phẫu thuật là 66 là mức cần phải can thiệp.
BS Tiến phân tích, nếu chỉ chèn ép đơn thuần sẽ tạo ra triệu chứng rối loạn cảm giác và rối loạn vận động; hiện tượng đau vùng rễ chi phối là do cơ chế viêm tạo ra.
Các yếu tố cytokines, prostaglandin E2, Interleukin-6 trong nhân nhày của đĩa, khi vỡ sẽ kích thích, viêm rễ. Hiện tượng này giúp giải thích đối với những trường hợp rất đau chân nhưng trên hình ảnh cộng hưởng từ thoát vị lại nhỏ, không gây rối loạn vận động cũng như cảm giác. Kết quả nghiên cứu có 90% bệnh nhân có triệu chứng đau rễ L5, do thoát vị thường gặp là thể dưới khớp; có 10% số bệnh nhân đau kiểu rễ S1 là do thoát vị trung tâm, khi đó thoát vị sẽ chèn ép vào vị trí của rễ S1.
Trên phim cộng hưởng từ thể thoát vị dưới khớp gặp 65%; thể thoát vị trung tâm gặp 32,5%; thể thoát vị lỗ liên hợp gặp 2,5%; không có trường hợp nào ngoài lỗ liên hợp. Về mức độ thoát vị, bong đĩa đệm hay gặp nhất chiếm 85%; di trú 12,5%; lồi đĩa đệm 2,5% bệnh nhân.
Huy Hoàng