Sự phát triển của phẫu thuật tim có đóng góp của kỹ thuật tuần hoàn ngoài cơ thể, gây mê hồi sức sau mổ.
Theo tác giả Đoàn Đức Hoằng, những tiến bộ về kỹ thuật tuần hoàn ngoài cơ thể, đặc biệt là cải tiến trong xử lý lượng máu hút về từ phẫu trường và xử lý bề mặt tiếp xúc giữa khí và máu trong quá trình phẫu thuật giúp khắc phục những hậu quả của sự hoạt hóa máu khi tiếp xúc với bề mặt nhân tạo, nhất là hậu quả của phản ứng viêm do tuần hoàn ngoài cơ thể.

Phẫu thuật tim hở đòi hỏi tuần hoàn ngoài cơ thể là một kỹ thuật hỗ trợ chức năng tim và phổi một cách tạm thời, đồng thời phải hút máu đảm bảo các thao tác ngoại khoa trên một quả tim ngừng đập tạm thời, phẫu trường sạch máu để có thể sửa chữa các tổn thương trên tim. Vì vậy, toàn bộ máu trong cơ thể người bệnh sẽ qua hệ thống tuần hoàn cơ thể, tiếp xúc với các bề mặt nhân tạo làm hoạt hóa hàng loạt hiện tượng phi sinh lý như phản ứng viêm toàn thể, các phản ứng về miễn dịch và đông máu. Hậu quả các quá trình này ảnh hưởng lên các cơ quan như não, tim, phổi, thận, gan và chức năng đông máu.
Từ năm 2000, có nhiều nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu ứng dụng hệ thống kín trong tuần hoàn ngoài cơ thể nhằm hạn chế bề mặt tiếp xúc khí- máu, nghiên cứu xử lý lượng máu không sinh lý được hút về từ phẫu trường.
Tác giả nghiên cứu Đoàn Đức Hoằng cùng các cộng sự đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Kết quả bước đầu áp dụng hệ thống kín tuần hoàn ngoài cơ thể trong phẫu thuật cầu nối động mạch vành”.Mục đích của nghiên cứu nhằm so sánh kết quả sử dụng hai kiểu hệ thống kín và hở của kỹ thuật tuần hoàn ngoài cơ thể trong phẫu thuật điều trị bệnh lý động mạch vành.
Đối tượng nghiên cứu thực hiện gồm 30 bệnh nhân được phẫu thuật tái tạo tưới máu động mạch vành dưới tuần hoàn ngoài cơ thể; đối tượng nghiên cứu chia hai nhóm; nhóm tuần hoàn ngoài cơ thể thường quy với hệ thống hở (n=15) là hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể với bể chứa máu tĩnh mạch cứng, toàn bộ máu cơ thể người bệnh và lượng máu từ phẫu thuật được dẫn lưu trực tiếp về trong bể chứa máu tĩnh mạch và không qua xử lý rửa máu bởi hệ thống cell saver. Nhóm hai là nhóm tuần hoàn ngoài cơ thể với hệ thống kín (n=15), đây là hệ thống có sử dụng thêm một túi mềm chứa máu tĩnh mạch; vì vậy hạn chế được bề mặt khí- máu, đồng thời lượng máu từ phẫu trường được qua xử lý rửa máu bởi hệ thống cell save, sau đó được truyền trở lại cho bệnh nhân.
Tác giả nghiên cứu cho biết, tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là có độ tuổi từ 18-75; có chỉ định phẫu thuật từ 2 cầu nối động mạch vành trở lên; có phân suất tống máu thất trái EF > 40%. Các bệnh nhân có suy chức năng gan, thận, thiếu máu trước mổ (Hb < 9g/dL); những bệnh nhân trước đó đã phẫu thuật dưới tuần hoàn cơ thể hoặc mổ cấp cứu không chọn tham gia nghiên cứu.
Về đặc điểm lâm sàng, đối với truyền máu, theo dõi lượng máu chảy qua dẫn lưu ở các thời điểm 6 giờ, 24 giờ sau khi về phòng hồi sức và ngay trước khi rút các ống dẫn lưu ngực. Chỉ định truyền hồng cầu khối duy trì Hematocrit sau mổ > 30%. Theo dõi pha loãng máu trong tuần hoàn ngoài cơ thể với tính bilan nước vào và ra.
Đặc điểm cận lâm sàng, công thức máu thực hiện ở các thời điểm trước phẫu thuật, 4 giờ sau khi kết thúc tuần hoàn ngoài cơ thể; ngày 1,2,3,5 và 5 ngày sau phẫu thuật. Bệnh nhân được định lượng nồng độ C3a ngay sau khi kết thúc tuần hoàn ngoài cơ thể; định lượng nồng độ IL-6 vào 4 giờ sau khi kết thúc tuần hoàn cơ thể; định lượng nồng độ Hb tự do vào 3 thời điểm sau: 5 phút trước khi rạch da; 5 phút trước khi kết thúc tuần hoàn ngoài cơ thể; 4 giờ sau khi kết thúc tuần hoàn ngoài cơ thể.
Tác giả nghiên cứu phân tích, khi mổ các thao tác rạch da, phẫu tích gỡ dính, làm bộc lộ với khoảng thời gian dài các mô cơ quan với môi trường bên ngoài làm khởi phát hiện tượng viêm xảy ra trong cơ thể người bệnh.
Qua so sánh giữa hai nhóm đối tượng, tác giả Đoàn Đức Hoằng có kết luận (1) tuần hoàn ngoài cơ thể kiểu hệ thống kín, giúp hạn chế bề mặt tiếp xúc khí-máu; đồng thời kỹ thuật này giúp xử lý được lượng máu hút về từ phẫu trường qua đó hạn chế sự hình thành hoặc loại bỏ được phần lớn các chất như C3a, IL-6, PS-100; Pdf, Hb tự do, từ đó góp phần khắc phục các hậu quả tuần hoàn ngoài cơ thể. (2) tuần hoàn ngoài cơ thể kiểu hệ thống kín làm giảm phản ứng viêm và các hậu quả có hại cho nên góp phần cải thiện chất lượng kỹ thuật như giảm biến chứng chảy máu, giảm thời gian thở máy, giảm thời gian ICU và rút ngắn thời gian nằm viện.
Mai Trang