Theo các chuyên gia về ung thư, những hướng dẫn điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm gần đây như Scottish Intercollegiate Gudelines Network năm 2008, British National Íntitute for Health and Clinical Excellence năm 2010, German S3 Leitlimiezur Therapie des Zervixkarzioms 2014 đều khuyến cáo áp dụng phẫu thuật nội soi thay thế cho phẫu thuật mổ mở.
Phẫu thuật nội soi áp dụng đối với những trường hợp ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm được cho là giúp giảm được sang chấn và tai biến của phẫu thuật.
Từ tháng 4/2016 đến tháng 12/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Phùng Thị Phương Chi cùng các cộng sự Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu và báo cáo đề tài “Báo cáo loạt ca phẫu thuật nội soi cắt tử cung tận gốc và nạo hạch chậu hai bên trong ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm”.

Phương pháp nghiên cứu là tất cả các bệnh nhân có kết quả phẫu thuật bệnh là carcinoma từ sinh thiết cổ tử cung trước mổ, có hoặc không có tia xạ trước đó. Các bệnh nhân được xếp giai đoạn theo tiêu chuẩn giai đoạn lâm sàng của FIGO 2010 từ giai đoạn IA2 đến IIA1. Các bệnh nhân được làm xét nghiệm tiền phẫu trước mổ, khám tiền mê để loại trừ các bệnh lý nội khoa có chống chỉ định phẫu thuật nội soi, bệnh nhân không có vết mổ cũ phức tạp; Các bệnh nhân được bác sĩ tư vấn lợi ích và nguy cơ của phương pháp phẫu thuật nội soi, tư vấn về khả năng chuyển mổ mở nếu không thuận lợi; Tất cả các ca phẫu thuật nội soi đều do cùng một êkip mổ thực hiện; các kết quả quá trình điều trị được ghi chép cẩn thận trong hồ sơ bệnh án. Phẫu thuật type B theo phân loại của hệ thống phân loại Querleu/Morrow, tương đương Werthem Meigs. Các chỉ số được nhóm nghiên cứu thu thập bao gồm tuổi bệnh nhân, chỉ số khối cơ thể; tiền sử xạ trị tiển phẫu, đặc điểm mô bệnh học, tình trạng diện cắt, số lượng hạch nạo, tình trạng hạch di căn, thời gian phẫu thuật, lượng máu mất, trường hợp phải truyền máu, biến chứng phẫu thuật và tình trạng hậu phẫu.
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu Phương Chi, có 11 bệnh nhân đủ điều kiện tự nguyện tham gia nghiên cứu, số lần sinh trung bình là 2, xếp loại giai đoạn ung thư cổ tử cung giai đoạn IA2 có 1 ca; IB1 có 9 ca, IIA1 có 1 ca. Chỉ số BMI có 6 ca nhỏ hơn 23 kg/m2. Kết quả giải phẫu bệnh loại carcinôm tế bào gai có 8 ca, loại carcinôm tuyến có 1 ca, 2 ca nhóm khác. Về xạ trị trước mổ có 1 ca; xạ trị sau mổ có 2 ca.
BS Phương Chi báo cáo, thời gian phẫu thuật trung bình của 11 ca trong nghiên cứu là 206,25 phút, lượng máu mất là 122ml; các bệnh nhân đều được lấy toàn bộ mô mỡ hạch; thời gian nằm viện là 4,5 ngày. Thời gian lưu sonde tiểu 7,6 ngày, không có trường hợp nào ghi nhận bờ phẫu thuật còn bướu. Không có trường hợp nào phải truyền máu trong hoặc sau mổ. Về biến chứng, có 2 trường hợp có biến chứng sau mổ là dò bàng quang – âm đạo.
BS Phương Chi chia sẻ, thời gian phẫu thuật nội soi cắt bỏ tử cung tận gốc cộng với nạo hạch chậu tương đối dài so với phẫu thuật mổ bụng mở. Thời gian ca mổ nhiều nhất là 180 phút, ca mổ lâu nhất là 240 phút. Tuy nhiên khi phẫu thuật nội soi có thuận lợi là ít gây sang chấn hơn so với mổ mở, lượng máu mất trong phẫu thuật ít, thậm chí có ca mất máu rất ít chỉ vào khoảng 20 ml; không có trường hợp nào phải truyền máu. Đối với hạch chậu được nạo, nhóm nghiên cứu luôn nạo vét toàn bộ mô mỡ ở bệnh nhân. Về thời gian nằm viện và hồi phục sau phẫu thuật 4-5 ngày là khá ngắn, đa số bệnh nhân đều hài lòng sau phẫu thuật. Đối với 2 trường hợp có biến chứng, BS Phương Chi cho rằng như vậy là tỷ lệ còn cao, đội ngũ phẫu thuật viên cần tích lũy nhiều hơn kinh nghiệm trong phẫu thuật để giảm tỷ lệ biến chứng trên người bệnh. Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy biến chứng thường xảy ra nhiều nhất là ở bàng quang, niệu quản, kế đến là trực tràng và các mạch máu lớn, tỷ lệ biến chứng phẫu thuật nội soi tương đương tỷ lệ biến chứng trong phẫu thuật mổ mở. Khi có biến chứng các mạch máu lớn lúc này chuyển bệnh nhân sang mổ bụng mở để sửa chữa tổn thương.
Trong nghiên cứu không có trường hợp nào nhiễm trùng ổ bụng hay nhiễm trùng vết mổ, điều này cho thấy mổ nội soi có tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ rất thấp. BS Phương Chi cũng lưu ý để hạn chế sự rơi vãi tế bào ung thư trong âm đạo, nhóm nghiên cứu đã khâu kín cổ tử cung ngay sau khi đặt dụng cụ đẩy tử cung, âm đạo được che chắn bằng 1 ống dẫn polymere vô trùng trong suốt chiều dài âm đạo.
BS Phương Chi kiến nghị trong thời gian đến nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục tiến hành thêm nghiên cứu với số lượng bệnh nhân tham gia lớn hơn qua đó giúp đánh giá hiệu quả công tác điều trị được đầy đủ hơn.
Trần Mai