Gây tê cạnh cột sống ngực là làm phong bế thần kinh vận động, cảm giác và thần kinh giao cảm ở một bên cơ thể.

Hiệu quả của gây tê cạnh cột sống ngực về giảm đau được cho là tương đồng với giảm đau phương pháp ngoài màng cứng; tuy nhiên gây tê cạnh cột sống ngực có ưu điểm về kỹ thuật là dễ làm hơn, tỷ lệ thành công cao, ít có tác dụng phụ hơn. Hiệu quả giảm đau và tính an toàn của nó còn phụ thuộc vào kỹ thuật gây tê và kinh nghiệm của người làm gây tê. Kỹ thuật vào khoang cạnh cột sống ngực gồm các phương pháp cổ điển mang tính bước ngoặc như kỹ thuật mất sức cản, kích thích thần kinh.
Theo các chuyên gia gây tê, phương pháp này gặp khó khăn trong việc xác định khoảng cách từ da đến các mốc giải phẫu là rất khác nhau và kỹ thuật mất sức cản đôi khi khó cảm nhận được. Gây tê cạnh cột sống ngực dưới hướng dẫn của siêu âm có nhiều ưu điểm vượt trội là tăng tỷ lệ thành công và tính an toàn của kỹ thuật gây tê do nhìn rõ mốc giải phẫu, đường đi của kim và sự lan truyền của thuốc tê.
Từ tháng 10/2014 đến tháng 5/2015, nhóm tác giả Nguyễn Hồng Thủy cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức Hà Nội tiến hành nghiên cứu đề tài “Siêu âm đo khoảng cách từ da đến mỏm ngang- màng phổi và chiều dài thực tế của kim Tuohy đến mỏm ngang và khoang cạnh cột sống ngực; qua đó đảm bảo an toàn cho người bệnh. Nghiên cứu có sự tham gia của 35 đối tượng nghiên cứu được gây tê cạnh cột sống ngực dưới hướng dẫn siêu âm để giảm đau sau mổ thận- niệu quản tại Khoa Gây mê Hồi sức Bệnh viện Bạch Mai. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân được mổ phiên thận và niệu quản, tuổi trên 16, thể trạng toàn thân ASA I-II và độ suy thận < 2, bệnh nhân không có chống chỉ định của gây tê cạnh cột sống ngực và thuốc tê.
Theo phân tích của BS. Nguyễn Hồng Thủy, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 50, người nhỏ nhất là 17 tuổi, lớn nhất là 70 tuổi; chỉ số khối cơ thể chung là 20,8; người thấp nhất có chỉ số khối cơ thể 15,5; cao nhất là 27,5 kg/m2; chỉ số khối cơ thể có ảnh hưởng đến độ sâu của kim đến khoang cạnh cột sống ngực.
BS.Thủy cho biết, khoảng cách từ da đến mỏm ngang đo siêu âm tại vị trí từ T6-T9 trung bình là 2,25 cm; người thấp nhất là 1cm và cao nhất có khoảng cách này là 3,2cm. Khi thực hiện gây tê mỏm ngang trên kim Tuohy, kết quả cho thấy chiều dài của kim từ da đến mỏm ngang tại vị trí từ T6-T9 trung bình là 2,66cm; người thấp nhất có khoảng cách là 1,5cm; cao nhất là 3,5cm. Khi so sánh hai khoảng cách từ da đến mỏm ngang trên siêu âm và chiều dài, thực tế của kim Tuohy đến mỏm ngang, tác giả nghiên cứu có nhận xét khoảng cách đo trên siêu âm luôn thấp hơn chiều dài thực tế của kim; hai khoảng cách này có mối tương quan chặt chẽ với hệ số r=0,979.
Đối với khoảng cách từ da đến lá thành màng phổi đo trên siêu âm tại vị trí từ T6-T9 trung bình là 3,62cm; khoảng cách này thấp nhất là 2,4cm và cao nhất là 4,8cm. Độ sâu của kim gây tê từ da vào đến khoang cạnh cột sống ngực; ở đốt ống ngực, khoảng cách này qua nhiều nghiên cứu có kết quả trung bình là 2-6cm. Tác giả Nguyễn Hồng Thủy cho biết, sau khi luồn Catheter vào khoang cạnh cột sống ngực, đánh dấu vị trí tiếp xúc với da của kim Tuohy, sau khi rút kim ra tiến hành đo với thước có vạch chia centimet, kết quả chiều dài thực tế của kim Tuohy tại T6-T9 trung bình là 4,1cm; người ngắn nhất là 2,8cm, dài nhất là 5,5cm. So sánh hai khoảng cách từ da đến lá thành màng phổi trên siêu âm và chiều dài thực tế của kim Tuohy đến khoang cạnh cột sống ngực, tác giả cho biết khoảng cách từ da đến lá thành màng phổi trên siêu âm luôn thấp hơn chiều dài thực tế của kim đến khoang cạnh cột sống ngực (r=0,937).
Tác giả nghiên cứu kết luận việc đánh giá bằng siêu âm khoang cạnh cột sống ngực theo mặt cắt ngang đã cung cấp thông tin đáng tin cậy, giúp cho việc tiến hành gây tê cạnh cột sống ngực có tỷ lệ thành công cao và an toàn, tạo cảm giác thoải mái cho bệnh nhân. Siêu âm giúp xác định chính xác vị trí chọc kim, hướng xuyên kim và ước lượng khoảng cách từ da đến mỏm ngang, đến lá thành màng phổi; từ đó có thể ước lượng khoảng cách từ da đến khoang cạnh cột sống ngực và chiều sâu tối đa của kim Tuohy khi thực hiện gây tê, điều này góp phần giúp tránh được tai biến đâm thủng màng phổi và hạn chế nguy cơ tràn khí màng phổi. Hiện nay, gây tê vùng được sử dụng nhiều để giảm đau sau mổ, đặc biệt khi có hỗ trợ của siêu âm tăng tính an toàn cho can thiệp.
Đức Bảo