[Đăng ngày: 16/06/2017]
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) thuộc nhóm bệnh tự miễn và hay gặp nhất trong các bệnh lý khớp viêm mạn tính với tổn thương cơ bản là tình trạng viêm không đặc hiệu mạn tính màng hoạt dịch của các khớp. Đặc điểm lâm sàng điển hình của bệnh là tình trạng viêm nhiều khớp, đặc biệt các khớp nhỡ, nhỏ ở bàn tay, đối xứng hai bên, kèm theo dấu hiệu cứng khớp buổi sáng kéo dài trên một giờ và sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong huyết thanh.
Bệnh nhân VKDT thường có tăng các yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch liên quan đến tình trạng xơ vữa mạch, đặc biệt là rối loạn mỡ máu, do đó làm tăng nguy cơ tử vong của bệnh nhân. Nhiều nghiên cứu về VKDT cho thấy, rối loạn mỡ máu hay gặp ở bệnh nhân VKDT gây ra bởi tình trạng viêm mạn tính và các thuốc dùng trong điều trị bệnh, đặc biệt là corticoid. Trong VKDT, các bệnh nhân bị hạn chế hoạt động thể lực do sưng, đau nhiều khớp cùng với tập quán ăn uống và chế độ sinh hoạt thay đổi là những yếu tố thúc đẩy sự gia tăng tình trạng rối loạn mỡ máu của bệnh nhân.
Từ tháng 11/2015 đến tháng 4/2016 nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Phương Thủy, Đinh Thị Ngọc, Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát tình trạng rối loạn mỡ máu ở bệnh nhân VKDT điều trị tại khoa khớp Bệnh viện Bạch Mai”.
Theo BS Phương Thủy, đối tượng nghiên cứu gồm 2 nhóm, nhóm 1 là nhóm bệnh có 81 bệnh nhân VKDT; nhóm 2 là nhóm chứng có 75 bệnh nhân thoái hóa khớp. Bệnh nhân VKDT được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Hội thấp khớp học Mỹ (ACR)-1987. Bệnh nhân thoái hóa khớp và cột sống được chẩn đoán xác định dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán thoái hóa khớp của Hội thấp khớp học Mỹ (ACR)-1991.
Tiêu chuẩn loại trừ: Các bệnh nhân VKDT và thoái hóa khớp không được làm xét nghiệm đánh giá mỡ máu và những bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu, tỷ lệ nữ giới trong nhóm bệnh nhân VKDT là 91,4%. Các bệnh nhân tuổi từ 50 trở lên chiếm tỷ lệ đến 87,7%; bệnh nhân dưới 40 tuổi chỉ có tỷ lệ 3,7%. Đối với bệnh nhân thoái hóa khớp nữ giới chiếm 76%; nhóm từ 50 tuổi trở lên chiếm 88%. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ rối loạn mỡ máu ở nhóm VKDT là 84%; còn ở nhóm thoái hóa khớp tỷ lệ này là 88%.
Tỷ lệ tăng cholesterol ở nhóm VKDT là 39,5%; nhóm thoái hóa khớp là 49,3%. Tỷ lệ tăng LDL-C ở nhóm VKDT là 58%; còn ở nhóm thoái hóa khớp là 66,7%. Về số thành phần lipit máu bị rối loạn gồm 0, 1, 2, 3 và 4 thì rối loạn 1 thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất 34,6%; rối loạn 2 thành phần lipit máu chiếm gần 26%; rối loạn cả 4 thành phần chỉ có 5 trường hợp bệnh nhân VKDT.
Tác giả nghiên cứu đo điểm mức độ hoạt động của bệnh theo DAS 28, kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có bệnh hoạt động mạnh (DAS 28 > 5,1) ở nhóm bệnh nhân VKDT có rối loạn mỡ máu là 45 bệnh nhân (66,2%); nhóm VKDT không có rối loạn mỡ máu là 9 bệnh nhân. Về yếu tố dạng thấp (RF) có 50 bệnh nhân VKDT có rối loạn mỡ máu có RF(+) (73,5%); đối với VKDT không có rối loạn mỡ máu có 7/13 bệnh nhân có RF(+); về xét nghiệm anti-CCP trong huyết thanh kết quả dương tính đối với 41 bệnh nhân (60,3%) đối với nhóm VKDT có rối loạn mỡ máu; đối với nhóm không có rối loạn mỡ máu có 6/13 bệnh nhân có anti-CCP(+).
Đái tháo đường týp 2 là một nguyên nhân thường gặp dẫn đến rối loạn mỡ máu thứ phát. Theo tác giả nghiên cứu do có mối liên quan chặt chẽ giữa tình trạng kháng insulin và rối loạn chức năng enzyme lipoprotein lipase (LPL) làm tăng nguy cơ xơ vữa mạch vành. Trong nghiên cứu, tác giả phát hiện có 13 bệnh nhân VKDT có rối loạn mỡ máu bị đái tháo đường týp 2; còn ở nhóm VKDT không bị rối loạn mỡ máu không có bệnh nhân nào bị bệnh đái tháo đường. Tác giả nghiên cứu cũng phân tích, sự đề kháng insulin dẫn đến rối loạn mỡ máu, gây ra tăng hấp thu muối ở thận và làm bệnh nhân tăng huyết áp. Vì vậy tình trạng bệnh nhân tăng huyết áp luôn kết hợp với rối loạn mỡ máu và làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch ở bệnh nhân VKDT.
Trong điều trị VKDT, việc sử dụng corticoid để kiểm soát tình trạng viêm màng hoạt dịch khớp sẽ làm tăng sự rối loạn lipit máu.
Theo Tổ chức Y tế thế giới tỷ lệ mắc bệnh VKDT khoảng 0,5-3% dân số trên thế giới từ 15 tuổi trở lên. Đối với người trên 65 tuổi tỷ lệ này tăng lên đến 10%. Tỷ lệ mắc bệnh ở phụ nữ cao hơn so với nam giới. Có thể nói VKDT là bệnh của phụ nữ ở tuổi trung niên, vì 80% bệnh nhân là nữ và 60-70% xuất hiện ở lứa tuổi trên 30.
Đa số trường hợp bệnh bắt đầu từ từ tăng dần, nhưng có khoảng 15% bệnh bắt đầu đột ngột. Trước khi có dấu hiệu khớp bệnh nhân có thể sốt nhẹ, mệt mỏi, gầy sút, tê các đầu chi, ra mồ hôi nhiều, rối loạn vận mạch, đau nhức và khó cử động ở khớp khi ngủ dậy. Ở giai đoạn bắt đầu 2/3 viêm 1 khớp, trong đó 1/3 khớp nhỏ ở bàn tay, cổ tay, ngón tay; 1/3 ở khớp gối và 1/3 các khớp còn lại. Sau vài tuần, vài tháng bệnh chuyển sang toàn phát với vị trí viêm bàn tay 90%; cổ tay 90%; khớp đốt ngón gần 80%; bàn ngón 70%; khớp gối 90%; bàn chân 70%; cổ chân 70%; ngón chân 60%; khớp khuỷu 60%. Trong đó 95% là đối xứng.
  Anh Huy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 121

Số lượt truy cập: 9359434

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang