[Đăng ngày: 29/06/2017]

Tác giả nghiên cứu Nguyễn Quốc Đạt- Bệnh viện Mắt Đà Nẵng đã có báo cáo nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả phẫu thuật phaco trên mắt có hội chứng giả long bao”.
Nghiên cứu có 02 mục tiêu (1) đặc điểm lâm sàng của đục thể thuỷ tinh trên mắt có hội chứng giả long bao; (2) Đánh giá kết quả phẫu thuật phaco trên mắt cho biến chứng giả long bao. Theo báo cáo của BS. Nguyễn Quốc Đạt, có 52 bệnh nhân với 52 mắt đục thể thuỷ tinh có hội chứng giả long bao được mời tham gia nghiên cứu. Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Phaco Bệnh viện Mắt Đà Nẵng trong thời gian từ tháng 1/2012 đến tháng 4/2013. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là đục thể thuỷ tinh có nhân cứng từ dộ 2 đến độ 4. Thị lực ở mức độ từ sáng tối (+) đến 4/10. Hình thái đục của hội chứng giả long bao, nhãn áp < 22mmHg.
Những bệnh nhân không được chọn tham gia nghiên cứu gồm bệnh nhân đục thể thuỷ tinh giả long bao có các biểu hiện đục lệch thể thuỷ tinh; đục thể thuỷ tinh có kèm theo bệnh glôcom hoặc đã được mổ glôcom. Có bệnh lý màng bồ đào, dịch kính, võng mạc, bệnh trên giác mạc như sẹo, mộng thịt. Có các bệnh kèm theo như đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc bệnh nhân không tự nguyện tham gia nghiên cứu đều không được mời tham gia nghiên cứu.
Về phương diện nghiên cứu, tác giả Nguyễn Quốc Đạt báo cáo sử dụng bảng đo thị lực vòng hở Landolt, nhãn áp kế Maklakov. Thuốc giãn đồng tử sử dụng Mydriacin. Máy Javal đo khúc xạ giác mạc. Hiển vi phẫu thuật đồng trục; máy Phaco, bộ dụng cụ vi phẫu thuật, kính nội nhãn mềm (IOL), dịch nhầy, thuốc nhuộm bao.
Qua phân tích, BS. Nguyễn Quốc Đạt báo cáo có 52 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tham gia nghiên cứu; tuổi trung bình là 79; bệnh nhân tuổi cao nhất là 93, thấp nhất là 59 tuổi. Đối với tỷ lệ nam giới có hội chứng giả long bao ở nam giới là 53,8% cao hơn so với nữ giới là 46,2%. Tỷ lệ bệnh nhân có thị lực trước mổ dưới 1/10 là 88%. Điều này cho thấy bệnh nhân trong nghiên cứu đều đến khám muộn tại bệnh viện; được chỉ định phẫu thuật muộn. Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có thể thuỷ tinh cứng độ 3 và độ 4 chiếm đến 92%; đồng thời có mối liên quan giữa tình trạng thị lực trước mổ vớ khả năng giãn của đồng tử. Đối với những mắt có thị lực trước mổ thấp ST(+) đến ĐNT 1m thì đường kính đồng tử sau khi làm giãn dưới 5mm nhiều hơn.
Tỷ lệ các mắt có thị lực > 5/10 ở thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật là 90,4%; tác giả nghiên cứu cho rằng phẫu thuật phaco sớm trên những mắt giả long bao có thể đem lại thị lực sau phẫu thuật cao và nguy cơ xảy ra các biến chứng trong và sau phẫu thuật cũng rất ít. Tác giả nhận thấy kết quả nghiên cứu việc xé bao không liên quan mức độ giãn đồng tử; do hiện nay phương tiện can thiệp đồng tử như sử dụng móc kéo giãn, vòng nong đồng tử, kỹ thuật của phẫu thuật viên ngày càng tốt hơn, do vậy tỷ lệ thành công xé bao liên tục được cao hơn.
Có các nghiên cứu của quốc tế cho kết quả ủng hộ những quan điểm cho rằng phẫu thuật phaco khá an toàn trên những mắt giả long bao. Tỷ lệ biến chứng ở cả hai nhóm giả long bao và không có giả long bao là tương đồng với 5,8% và 4%. Cụ thể như các biến chứng rách bao sau, đứt dây treo thuỷ tinh thể ở nghiên cứu xảy ra là do những bệnh nhân đến bệnh viện ở giai đoạn muộn, nhân cứng, mức độ giả long bao nhiều, đồng tử kém giãn, dây Zinn yếu. Tỷ lệ có biến chứng phù giác mạc cao có thể do tỷ lệ nhân ở độ 3,4 trong nghiên cứu khá nhiều, cộng với nguyên nhân đồng tử kém giãn. Qua theo dõi bệnh nhân, tác giả nghiên cứu chia sẻ hầu hết những mắt có can thiệp làm giãn đồng tử đều có màng xuất tiết trên mặt IOL sau phẫu thuật. Tác giả nghiên cứu cho rằng kỹ thuật kéo giãn đồng tử làm đứt cơ vòng mống mắt, tổn thương các mao mạch nhỏ của mống mắt dẫn đến thoát huyết tương và các thành phần hữu hình vào tiền phòng tạo nên màng xuất tiết trên mặt IOL trong những ngày đầu sau phẫu thuật. Việc đáp ứng viêm sau phẫu thuật ở những mắt giả long bao có liên quan chặt chẽ với tình trạng đồng tử giãn.
Tác giả Nguyễn Quốc Đạt báo cáo sau 3 tháng phẫu thuật, thị lực đối tượng nghiên cứu > 5/10 là 90,4%; nhãn áp sau mổ không thay đổi nhiều so với trước mổ; 15,4% có kéo giãn đồng tử bằng 2 tay; 2 mắt có cắt cơ vòng mống mắt; 52% áp dụng kỹ thuật chop Insitu và phaco quick chop. Có 88% viêm giác mạc khía sau phẫu thuật và đều hết sau 1 tuần phẫu thuật. Tác giả nghiên cứu khuyến nghị phẫu thuật phaco trong hội chứng giả long bao nên tiến hành sớm khi thị lực còn cao (1/10 đến 4/10) để hạn chế tai biến do hội chứng giả long bao gây ra.
Hữu Lai

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 121

Số lượt truy cập: 9359434

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang