
Thông liên thất là bệnh tim bẩm sinh thường gặp do sự tồn tại của lỗ thông tại vách liên thất. Bệnh chiếm tỷ lệ khoảng 5-10% các bệnh tim bẩm sinh. Đóng thông liên thất bằng dụng cụ là một biện pháp can thiệp nội mạch gần đây phát triển mạnh mẽ.
Tại Việt Nam, theo BS.Nguyễn Thượng Nghĩa, có một số bệnh viện đã tiến hành đóng thông liên thất phần quanh màng cho kết quả thành công; dụng cụ đóng thông liên thất các bệnh viện sử dụng khác nhau như bằng lò xo xoắn PFM Le Coils; bằng dụng cụ đóng thông liên thất; bằng dụng cụ đóng ống động mạch thế hệ 1 (ADO1). Vấn đề quan tâm là kết quả dài hạn của các dụng cụ như thế nào đối với bệnh nhân.
Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thượng Nghĩa, Nguyễn Quốc Tuấn - Bệnh viện Chợ Rẫy TP Hồ Chí Minh đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Kết quả ban đầu đóng thông liên thất phần màng bằng dụng cụ tại Bệnh viện Chợ Rẫy”; kỹ thuật sử dụng phần màng/ phần cơ bằng dụng cụ chủ yếu đóng còn ống động mạch thế hệ 2 (ADO2). Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là có đường kính lỗ thông liên thất 2-10mm. Có 10 bệnh nhân thông liên thất thể quanh màng phù hợp với tiêu chuẩn được chọn vào tham gia nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu được đánh giá triệu chứng suy tim, phù chân, xét nghiệm công thức máu, chức năng thận, chức năng gan và đông máu toàn bộ. Siêu âm tim qua thành ngực để đo kích thước lỗ thông liên thất; vị trí và khoảng cách tới các van động mạch chủ, động mạch phổi và van nhĩ thất. Các nghiên cứu viên tiến hành thông tim trái và phải qua đường ngược dòng từ tĩnh mạch đùi phải và động mạch đùi phải bằng ống thông đa năng MP và ống thông đuôi heo (pogtail catheter). Tiến hành đóng thông liên thất ngược dòng qua đường tĩnh mạch đùi phải, chọn dụng cụ thích hợp đưa vào trong hệ thống dẫn đường chuyên biệt vào động mạch chủ lên sau đó. Tại đây, đĩa bên trái của dụng cụ được bung từ động mạch chủ lên sau đó kéo dần về buồng thất trái, kéo sát lỗ thông liên thất, bung phần eo của dụng cụ và cuối cùng bung toàn bộ phần bên phải. Quá trình thực hiện theo dõi cẩn thận dưới màng tăng sáng, kiểm tra dụng cụ ổn định và luồng thông tồn lưu sau thủ thuật. Kết quả được cho là thành công về kỹ thuật khi nghiên cứu viên đưa dụng cụ tới được vị trí lỗ thông và bung dụng cụ thành công; luồng thông tồn lưu < 3mm trên siêu âm tim sau thủ thuật, không có biến chứng nặng trong thời gian nằm viện.
BS.Nguyễn Thượng Nghĩa cho biết trong 10 ca thực hiện, 09 ca đóng thành công bằng dụng cụ gồm 01 ca bằng lò xo xoắn, 01 ca bằng ADO thế hệ 1, 07 ca bằng dụng cụ ADO thế hệ 2. Tuổi trung bình bệnh nhân là 24, nhỏ nhất 10 tuổi, lớn nhất 38 tuổi. Kích thước lỗ thông ca nhỏ nhất là 3mm và lớn nhất là 8mm.
Về dụng cụ đóng ống động mạch thế hệ 2 (ADO2), theo BS Nghĩa dụng cụ được cấu tạo chủ yếu bằng sợi Nitinol rất mảnh, đan chéo lẫn nhau, có 02 dĩa hai bên kẹp lấy phần nút đóng ở giữa. Do 2 dĩa hai bên rất mềm nên chèn không đáng kể vào cấu trúc xung quanh, đặc biệt hệ thống dẫn truyền cận nút nhĩ thất nên hạn chế biến chứng block nhĩ thất xảy ra. Phần nút đóng ở giữa chỉ đóng vào phần ống của lỗ thông liên thất và được giữ bằng 2 đĩa hai bên nên kết quả đóng cũng khá hiệu quả.
Có thuận lợi là kích thước lỗ thông liên thất ở các bệnh nhân nhỏ, nên dụng cụ đóng lỗ thông ADO thế hệ 2 cũng nhỏ hơn. Chọn dụng cụ đóng ống động mạch ADO thế hệ 2 không có lớp tơ sợi (fibers) bên trong dụng cụ ADO thế hệ 2 nên luồng thông tồn lưu này thường nhỏ hơn 3mm trên siêu âm tim và không gây các biến chứng tán huyết sau đó.
BS.Nghĩa cho biết do nghiên cứu ít bệnh nhân vì vậy những biến chứng có thể xảy ra ít gặp. Cụ thể có những biến chứng có thể gặp là tràn dịch màng ngoài tim, hở van 3 lá cấp do đứt dây chằng van 3 lá; hở van động mạch chủ do rách lá van trong quá trình thủ thuật hoặc tuột, rơi dụng cụ vào trong tim hoặc các mạch máu lớn. BS.Nghĩa cho rằng đóng thông liên thất phần màng bằng dụng cụ khả thi và an toàn, đặc biệt khi dùng cụng cụ ADO thế hệ 2, đây là kỹ thuật điều trị tốt cho thời gian đến.
Anh Duy